Tuyên ngôn độc lập soi đường cho dân tộc Việt Nam trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc
Sự kiện trọng đại ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đánh dấu bước 'thay đổi trạng thái' có tính quyết định của Việt Nam, từ một dân tộc thuộc địa nửa phong kiến, trở thành một dân tộc độc lập, mở ra thời đại mới của lịch sử - thời đại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Sự kiện này không chỉ kết thúc ách đô hộ kéo dài gần 80 năm của thực dân Pháp và 5 năm của phát xít Nhật đối với Việt Nam; mà còn là tuyên ngôn bất hủ, là sự kết tinh tư tưởng, ý chí, khát vọng của toàn dân tộc về một nền độc lập thực sự, hoàn toàn và triệt để. Tuyên ngôn Độc lập là ngọn cờ dẫn đường cho dân tộc và nhân dân Việt Nam trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc.
Tuyên ngôn Độc lập – cương lĩnh chính trị cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
Độc lập luôn luôn và thường trực là giá trị căn bản và thiêng liêng nhất đối với dân tộc Việt Nam. Từ lời tuyên bố trong Nam quốc sơn hà: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” (tương truyền của Lý Thường Kiệt) đến sự khẳng định trong Bình Ngô đại cáo (của Nguyễn Trãi): “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục bắc nam cũng khác/ Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương…”; Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là sự tiếp nối dòng chảy lịch sử, văn hóa và truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, bao gồm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn (trong nước và thế giới); có tính định hướng rõ ràng, xác định rõ những mục tiêu chiến lược; văn phong hùng hồn, đầy tính tính thuyết phục, sức lan tỏa lớn; được công bố rộng rãi đến toàn thể dân chúng... Tuyên ngôn Độc lập được khẳng định như một cương lĩnh chính trị của cách mạng Việt Nam trên con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc, thể hiện cụ thể là:
Thứ nhất, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định tính chính đáng có được độc lập của dân tộc Việt Nam
Hồ Chí Minh đã khéo léo kết hợp tư tưởng tiến bộ của nhân loại vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam bằng cách trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ(1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791). Từ những quyền cơ bản “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi người, Hồ Chí Minh đã mở rộng và đi đến khẳng định quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam. “Quyền thiêng liêng” được hiểulà quyền cao quý nhất, đáng tôn thờ, kính trọng và cần được giữ gìn. “Quyền bất khả xâm phạm” là quyền không thể can thiệp, tác động đến của một cá nhân, tổ chức hoặc lớn hơn là một quốc gia, dân tộc; quyền này đã được pháp luật bảo vệ. Điều này đã tạo nên một cơ sở pháp lý vững chắc, khẳng định tính chính nghĩa cuộc đấu tranh của dân tộc ta, phù hợp với xu thế chung của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

“Tuyên ngôn Độc lập” năm 1945 là bản hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.
Độc lập dân tộc đối với Việt Nam không chỉ là pháp lý mà còn là đạo lý. Nội dung chính của Tuyên ngôn là tuyên bố trước toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một nước tự do và độc lập”[1]. Đó là một tất yếu, là “lẽ phải không ai chối cãi được”. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là đi ngược lại những giá trị chung, giá trị tốt đẹp của nhân loại đã được thừa nhận trong chính Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ (1776): “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[2] và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1979: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”[3].
Thứ hai, Tuyên ngôn Độc lập là lời hiệu triệu toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc
Hồ Chí Minh đã tổng kết truyền thống yêu nước của dân tộc trong một câu nói rất nổi tiếng: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[4]. Từ mẫu số chung lớn nhất đó là lòng yêu nước, Tuyên ngôn Độc lập đã khơi dậy tinh thần, ý chí đấu tranh không nhượng bộ của toàn dân Việt Nam để bảo về nền độc lập, khơi dậy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp các giai cấp, tôn giáo, dân tộc hướng đến mục tiêu chung là độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Tuyên ngôn đã vạch trần một cách đanh thép tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm thống trị. Từ việc bóc lột kinh tế (cướp đất, lập nhà máy để vơ vét tài nguyên) đến đàn áp chính trị (chia rẽ dân tộc, giết hại người yêu nước), và đầu độc văn hóa (dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm suy đồi giống nòi)... Người đặc biệt nhấn mạnh đến bản chất của thực dân, phát xít khi năm 1940, phát xít Nhật đến Đông Dương, thực dân Pháp chẳng những không “bảo hộ” được Việt Nam mà còn quỳ gối đầu hàng bán Việt Nam hai lần cho Nhật, khiến cho nhân dân ta càng thêm cực khổ, khiến cho “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”… Đó là những tội ác vi phạm quyền con người, quyền dân tộc, đi ngược lại khát vọng hòa bình của toàn nhân loại.Việc tố cáo này không chỉ thức tỉnh lòng yêu nước, mà còn khơi dậy ý chí căm thù giặc, tạo nên sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân để bảo vệ nền độc lập vừa giành được.
Tuyên ngôn Độc lập đã hiệu triệu mạnh mẽ, thôi thúc mọi người dân Việt Nam với quyết tâm: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[5]. Sự khẳng định kiên quyết ấy giống như một lời thề sắt đá, khẳng định ý chí kiên cường, bất khuất, không gì lay chuyển của dân tộc Việt Nam; trở thành ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ, để bảo vệ và giữ vững những giá trị mà Tuyên ngôn đã xác lập.
Thứ ba, Tuyên ngôn Độc lập đã xác lập vị thế của Việt Nam - một quốc gia độc lập trên trường quốc tế
Bằng cách trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791), Hồ Chí Minh đã nâng cao tầm vóc cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Người cũng trịnh trọng tuyên bố một cách rõ ràng và dứt khoát: “chúng tôi - Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới - đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”[6]; đồng thời thể hiện sự tin tưởng: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”[7].
Tuyên ngôn Độc lập được Hồ Chí Minh soạn thảo và tuyên bố trước thế giới trong tình hình cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi trên cả nước, nhưng nền độc lập của dân tộc đứng trước nhiều thách thức mới của tình hình quốc tế và trong nước. Sau khi Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng minh đánh bại phát xít Đức và phát xít Nhật, buộc chúng đầu hàng vô điều kiện, thực dân Pháp cố tình quay trở lại xâm lược nước ta và Đông Dương.
Dưới danh nghĩa quân đội Đồng minh vào tước vũ khí quân Nhật, nhưng âm mưu của Quốc dân đảng Trung Hoa là tiêu diệt Đảng Cộng sản Việt Nam, phá tan Việt Minh, giúp các thế lực phản động trong nước đánh đổ chính quyền nhân dân, lập nên chính phủ phản động tay sai. Ở phía Nam vĩ tuyến 16 (từ Đà Nẵng trở vào), cũng với danh nghĩa lực lượng Đồng minh, quân đội Anh vào tước vũ khí quân Nhật, nhưng trên thực tế, đế quốc Anh cấu kết với thực dân Pháp trở lại chiếm Việt Nam và cả Đông Dương để đàn áp cách mạng Đông Dương vì lo sợ rằng, phong trào ấy “làm gương” cho các thuộc địa của Anh. Mặt khác, cũng để ngǎn chặn âm mưu của Mỹ muốn tranh giành quyền lợi với Anh, Pháp ở Đông Dương và Đông Nam châu Á. Cùng với đó, ngày 22-8-1945, Xanh-tơ-ni đã theo phái đoàn Mỹ đến Hà Nội. Ngày 28-8-1945, biệt kích Pháp nhảy dù xuống gần Huế và 6000 quân Pháp đánh chiếm Lai Châu. Chưa bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều kẻ thù xâm lược như vậy. Mặc dù có những ý đồ riêng và hành động cụ thể khác nhau nhưng chúng đều thống nhất mục tiêu là tiêu diệt chính quyền nhà nước Việt Nam non trẻ.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Ảnh tư liệu
Trong bối cảnh vô cùng phức tạp đó, Tuyên ngôn Độc lập đã chính thức tuyên bố và khẳng định đanh thép về việc Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, sánh vai với các quốc gia khác trên thế giới, có đủ vị thế và tư cách, đại diện cho tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đứng ra để giải quyết những vấn đề đối ngoại trước những vị khách “không có thiện chí” tại thời điểm bấy giờ.
Thứ tư, Tuyên ngôn Độc lập là nguồn cổ vũ nhân dân Việt Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập dân tộc
Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, Tuyên ngôn Độc lập trở thành ngọn cờ chính nghĩa cổ vũ nhân dân Việt Nam đứng lên chiến đấu, bảo vệ nền độc lập đã được tuyên bố. Cuộc kháng chiến chống Pháp chính là cuộc chiến đấu để bảo vệ những giá trị vĩnh cửu đã được Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn, để bảo vệ quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
Ngay sau Tuyên ngôn, lý tưởng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc đã được ghi trong Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946: “Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa. Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới. Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”[8]. Điều này càng củng cố những giá trị pháp lý đã được tuyên bố trong Tuyên ngôn độc lập.
Trên tinh thần đã được khẳng định trong Tuyên ngôn, chúng ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập dân tộc với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[9] và kiên cường bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ với ý chí: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”[10].
Tuyên ngôn Độc lập - Ngọn đuốc soi đường cho con đường xây dựng và phát triển đất nước đi tới hạnh phúc
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Giá trị của Tuyên ngôn độc lập không chỉ dừng lại ở cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn tiếp tục soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn sau này.
Tuyên ngôn Độc lập khẳng định mục tiêu cao cả là mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Bản chất của một nền độc lập thực sự và triệt để phải được đo bằng thước đo là cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân như Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”[11]. Đây chính là mục tiêu thấm đẫm tinh thần tiến bộ và nhân văn; là thước đo sự kiên định, tính triệt để cách mạng về quyền con người bất khả xâm phạm, gắn liền với quyền đất nước độc lập thiêng liêng và quyền tự quyết dân tộc vô giá Việt Nam. Đó là chân lý và khát vọng thời đại.
Tuyên ngôn khẳng định, “Quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” không chỉ là những khẩu hiệu mà là mục tiêu tối thượng của sự nghiệp cách mạng. Sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn đặt mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lên hàng đầu. Hạnh phúc không chỉ là sự giải phóng khỏi ách đô hộ, mà còn là cuộc sống ấm no, đầy đủ, nơi mọi người dân đều có thể phát triển toàn diện.
Tuyên ngôn độc lập là tiền đề cho việc xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, một điều kiện đảm bảo cho hạnh phúc lâu bền. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống lại nô dịch của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”[12]. Điều này cho thấy, Người khẳng định một cách chắc chắn, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, và nhà nước có mục tiêu cao nhất là phục vụ những nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân. Tư tưởng này đã trở thành tiền đề cho việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam, nơi nhân dân được là chủ và làm chủ. Đây chính là minh chứng rõ nét nhất cho tính ưu việt của chế độ mới, chế độ từng bước mang lại cuộc sống âm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Độc lập không có nghĩa là tự cô lập mình, tự mình khép kín. Dù Tuyên ngôn Độc lập là lời tố cáo đanh thép tội ác của chủ nghĩa thực dân, nhưng vẫn thể hiện rất rõ tinh thần đoàn kết quốc tế. Việc trích dẫn các bản Tuyên ngôn của Mỹ và của Pháp, cùng với việc kêu gọi sự công nhận của các nước Đồng minh, cho thấy Hồ Chí Minh không tách rời sợi dây liên hệ của các mạng Việt Nam với thế giới mà luôn đặt cách mạng Việt Nam vào dòng chảy chung của cách mạng thế giới. Đây là cơ sở cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Ca ngợi về Hồ Chí Minh, bạn bè thế giới đã khẳng định: “Hồ Chí Minh là người thầy, cũng như Si-môn Bô-li-va và Rô-sê Mác-ti từng là những người thầy ở châu Mỹ của chúng tôi. Lý tưởng của các vị ấy đã nêu bật sự đối xứng giữa tự do và công lý, giữa phẩm giá và chủ quyền trong cuộc đấu tranh vì cách mạng giải phóng dân tộc, hướng tới mục tiêu giải phóng xã hội và xây dựng một trật tự mới”[13].
80 năm đã trôi qua nhưng Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục soi sáng cho dân tộc Viêt Nam trên con đường tiến bước vào tương lai, nhằm đạt được những mục tiêu lớn của đất nước. Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc chính là bước tiếp nối kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự dẫn đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được đổi lấy bởi sự hy sinh xương máu của nhiều thế hệ cha anh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện độc lập, tự do, hạnh phúc, chúng ta cần tiếp tục giữ vững, củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ mọi cơ hội, thuận lợi, vượt qua những khó khăn, thách thức để đạt được mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Đây chính là sự tri ân của các thế hệ người Việt Nam với sự hy sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và các bậc tiền nhân.
TS TRẦN THỊ HỢI, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.3.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.1.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.1.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 7, tr.38.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.3.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.3
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.3
[8] Xem https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1946-Viet-Nam-Dan-Chu-Cong-Hoa-36134.aspx
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.534
[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.131.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.175
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr3
[13] Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại, Tạp chí Tuyên giáo, https://tuyengiao.vn/theo-guong-bac/ho-chi-minh-song-mai-trong-trai-tim-nhan-loai-20138