Tuyên Quang đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,5% mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030
UBND tỉnh Tuyên Quang vừa ban hành Kế hoạch số 337/KH-UBND thực hiện Nghị quyết số 217/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình hành động số 69-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2026 - 2030, Tuyên Quang phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 10,5%/năm, GRDP bình quân đầu người đến cuối kỳ đạt 95 triệu đồng, năng suất lao động tăng bình quân 9,1%/năm. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt trên 20%.
Giai đoạn 2031 - 2035, các chỉ tiêu tương ứng là 8%/năm, 137 triệu đồng/người, 7,8%/năm và trên 32%;
Giai đoạn 2036 - 2045 phấn đấu đạt 7%/năm, 247 triệu đồng/người, 6,2%/năm và trên 40%.

Tuyên Quang đặt mục tiêu đổi mới mô hình phát triển, tạo động lực tăng trưởng mới. Ảnh: tuyenquang.gov.vn
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng. Đến năm 2030, tỉnh Tuyên Quang phấn đấu có trên 10 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hơn 25% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo và trên 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số.
Trên 60% sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù được bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ. Chi ngân sách địa phương cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt trên 1,5%; 80% cơ sở dữ liệu dùng chung thuộc danh mục được phê duyệt hoàn thành số hóa, kết nối, chia sẻ với hệ thống của Trung ương.
Tuyên Quang cũng đặt mục tiêu nâng cao hiệu quả quản trị, cải cách hành chính và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đến năm 2030, chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) phấn đấu xếp 20/34 tỉnh, thành phố; PCI thuộc nhóm địa phương có chất lượng điều hành “Khá”; SIPAS đạt từ 80% trở lên.
Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) được đặt mục tiêu xếp từ 15 đến 20/34 tỉnh, thành phố, còn PAPI thuộc nhóm “Khá”.
Trên lĩnh vực xã hội, Tuyên Quang phấn đấu đến năm 2030 quy mô dân số khoảng 1,859 triệu người, tỷ trọng đào tạo các ngành STEM đạt 30%, có trên 600 cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt khoảng 50%, bảo hiểm thất nghiệp khoảng 35%, hướng tới 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe tối thiểu 68 năm.
Trong lĩnh vực văn hóa, con người, chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt 0,72 vào năm 2030, ngành công nghiệp văn hóa tăng trưởng bình quân 7%/năm. Tuyên Quang dự kiến xây dựng 3 không gian văn hóa, sáng tạo, trải nghiệm; từng bước phát triển văn hóa số, nghệ thuật số, du lịch di sản thông minh, kinh tế đêm và các không gian sáng tạo phù hợp.
Về môi trường, đến năm 2030, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 26,1%; 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.
Tỉnh phấn đấu có 70% hộ dân tại khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai có nhà ở an toàn; hoàn thành di dời 80% số hộ sinh sống tại nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất đến nơi an toàn. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,2%, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 95% và 98% cơ sở sản xuất, kinh doanh đáp ứng quy chuẩn môi trường.
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Kế hoạch số 337/KH-UBND xác định 40 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.Trong đó, tập trung hoàn thiện thể chế, thu hút nhân tài, phát triển kinh tế số, không gian ngầm, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp, năng lượng, dịch vụ và logistics.
Tuyên Quang cũng đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Trường Đại học Tân Trào được định hướng trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của tỉnh và khu vực.
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Tuyên Quang phát triển hạ tầng dữ liệu, hệ thống chỉ huy - điều hành số và các nền tảng số dùng chung. Về đối ngoại, tỉnh phấn đấu mỗi năm ký 3-5 chương trình hợp tác quốc tế, kết nối thêm 10-20 đối tác, ưu tiên các lĩnh vực đầu tư, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh.
UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương cụ thể hóa kế hoạch thành chương trình công tác, xác định rõ nhiệm vụ, tiến độ, trách nhiệm và sản phẩm đầu ra; tăng cường kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn. Sở Tài chính được giao theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thực hiện, báo cáo UBND tỉnh theo quy định.

