Tuyên Quang đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả kinh tế
Chuyển đổi số đang từng bước góp phần đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và hiệu quả sản xuất, kinh doanh tại Tuyên Quang.
Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, tỉnh tập trung ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn, gắn chuyển đổi số với cải cách hành chính và phát triển kinh tế - xã hội.
Trong cải cách hành chính, tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục, đồng thời rà soát, đơn giản hóa quy trình và rút ngắn thời gian xử lý. Trong 7 tháng đầu năm, toàn tỉnh có 2.190 thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp; phương án đơn giản hóa được phê duyệt đối với 1.621 thủ tục và thời gian giải quyết được cắt giảm đối với 984 thủ tục thuộc thẩm quyền. Các giải pháp này góp phần giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân.
Công tác số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính tiếp tục được chú trọng. Tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết đạt trên 92%; tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu đã số hóa đạt gần 97%. Việc tái sử dụng dữ liệu giúp hạn chế yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có, đồng thời nâng cao hiệu quả xử lý hồ sơ và tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
Tại xã Tùng Vài, từ đầu năm đến nay, bộ phận tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính đã tiếp nhận 4.547 hồ sơ, trong đó giải quyết 4.541 hồ sơ. Việc cải tiến quy trình và ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai gắn với hoạt động phục vụ người dân tại cơ sở.
Hạ tầng viễn thông tiếp tục được đầu tư nhằm tạo nền tảng cho chính quyền số và các dịch vụ số. Toàn tỉnh có 3.098 trạm BTS, trong đó có 593 trạm 5G; 100% trung tâm xã, phường có internet cáp quang và sóng 5G. Hệ thống quản lý văn bản có hơn 23.500 tài khoản hoạt động, cùng 162 điểm cầu hội nghị trực tuyến liên thông. Hạ tầng này hỗ trợ kết nối giữa các cơ quan, đơn vị, phục vụ trao đổi thông tin, xử lý công việc trên môi trường mạng và nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành.
Trong khu vực doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ góp phần đổi mới quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường. Tuyên Quang hiện có gần 6.800 doanh nghiệp; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 34,8% tổng thu ngân sách và khoảng 40% GRDP. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nhiều doanh nghiệp chủ động đầu tư thiết bị hiện đại, tự động hóa một số công đoạn và cải tiến quản trị nhằm kiểm soát chất lượng, tiết kiệm chi phí, đáp ứng yêu cầu của đối tác.
Trong lĩnh vực chế biến lâm sản, Công ty TNHH Sao Việt Tuyên Quang đã đầu tư gần 200 tỷ đồng xây dựng dây chuyền sản xuất ván ép tự động hóa phục vụ xuất khẩu. Công ty Cổ phần Cơ khí Tuyên Quang cải tiến dây chuyền, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và hướng tới mục tiêu doanh thu 80 tỷ đồng trong năm 2026. Trong lĩnh vực dệt may, Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu Phương Đỉnh tại phường Nông Tiến đầu tư thiết bị dệt len công nghệ cao để nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu.
Bà Vương Dự Đỉnh, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu Phương Đỉnh, cho biết hệ thống thiết bị mới giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng yêu cầu đơn hàng, nhất là tại thị trường Nhật Bản. Từ cơ sở sản xuất ban đầu, công ty đã phát triển thêm cơ sở tại Nhữ Khê và Chiêm Hóa, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
Cùng với việc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tỉnh chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai dự án. Tổ công tác đặc biệt do Chủ tịch UBND tỉnh làm Tổ trưởng được thành lập để chỉ đạo giải quyết các vướng mắc liên quan đến đất đai, thủ tục đầu tư và tiến độ thực hiện dự án. Nội dung này được đề cập tại buổi làm việc nghe báo cáo kết quả giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp trong khuôn khổ Hội nghị Ban Chỉ đạo về phát triển kinh tế tư nhân làm việc với các hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn 2026-2030, tỉnh đặt mục tiêu có trên 4.000 doanh nghiệp thành lập mới, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn vượt 10.000. Tuyên Quang cũng phấn đấu vươn lên vị trí 22/34 tỉnh, thành phố về chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI), hướng tới nhóm 20 địa phương dẫn đầu vào năm 2030.
Để đạt các mục tiêu này, tỉnh cần sự phối hợp đồng bộ của các cấp, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ cần gắn với cải cách hành chính, nâng cao năng suất lao động và mở rộng thị trường. Cùng với đầu tư hạ tầng, Tuyên Quang tiếp tục chú trọng chất lượng dữ liệu, hiệu quả vận hành và khả năng tiếp cận dịch vụ số của người dân, doanh nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.

