Tỷ lệ giải ngân không phải là thước đo chính
Đến hết ngày 10/9, tổng kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2026 được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao là 1.022.607 tỷ đồng. Số vốn đã giải ngân đến hết ngày 10/9 đạt 523.813,6 tỷ đồng, bằng 51,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Đầu tư công có vai trò quan trọng trong dẫn dắt, kích hoạt dòng vốn tư nhân, vốn FDI, góp phần thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng nhanh và bền vững. Tuy nhiên hiện nay, việc đánh giá hiệu quả của nguồn vốn mới chủ yếu được nhìn nhận ở khía cạnh kết quả giải ngân. Bởi vậy, một trong yêu cầu đặt ra trong Nghị quyếtsố19-NQ/TW là hiệu quả của đầu tư công cần được nhìn từ giá trị dự án tạo ra sau khi hoàn thành, khả năng giải quyết những điểm nghẽn phát triển và mức độ kích hoạt các nguồn lực khác của nền kinh tế. Nguồn lực phải được phân bổ theo các ưu tiên chiến lược, hướng vào những lĩnh vực có năng suất, giá trị gia tăng và sức lan tỏa, dẫn dắt, kích hoạt đầu tư xã hội.
Phân tích rõ hơn về định hướng này, theo một chuyên gia, khi đánh giá về đầu tư công cần tách rõ khâu giải ngân, tức khả năng đưa vốn đã bố trí vào thực hiện. Thứ hai là hình thành tài sản, tức là dự án có hoàn thành đúng tiến độ, đúng chất lượng, trong giới hạn chi phí hay không. Cuối cùng là hiệu quả phát triển, tức tài sản sau khi đưa vào sử dụng tạo thêm bao nhiêu năng lực sản xuất, tiết giảm bao nhiêu chi phí và huy động được thêm nguồn lực xã hội ở mức nào. Nếu chỉ chú trọng vào khâu giải ngân thì là chưa đủ, cần phải “tham chiếu” cả hai khâu còn lại.
Ở góc độ khác, có ý kiến cho rằng, nếu vẫn lấy tỷ lệ giải ngân làm thước đo chính và chủ yếu thì mới chỉ phản ánh được một phần của bài toán đầu tư công. Trong giai đoạn nền kinh tế hướng tới tăng trưởng chất lượng cao, câu hỏi quan trọng hơn là mỗi đồng vốn nhà nước tạo thêm được bao nhiêu năng lực phát triển. Mỗi đồng vốn nhà nước chỉ thực sự phát huy giá trị khi có khả năng “kéo” theo thêm nhiều vốn tư nhân khác và mở ra không gian sản xuất mới, giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đặc biệt, các rào cản về thể chế, thủ tục nếu chưa được tháo gỡ thì việc tiếp tục bổ sung vốn chưa chắc tạo ra hiệu quả tương xứng. Do đó, việc quản lý đầu tư công phải hết sức chặt chẽ, tập trung vào những “điểm nghẽn” cốt lõi. Bởi cái mà nền kinh tế cần ở đầu tư công không phải là những “con số đẹp” về giải ngân mà là khả năng tạo thế phát triển mới. Khi vốn đầu tư công thực sự phát huy vai trò dẫn dắt, mở đường thì mới thực sự trở thành lực dẫn cho tăng trưởng.
Hiện nay, áp lực lớn nhất của các bộ, ngành, địa phương đối với đầu tư công là tỷ lệ giải ngân. Việc chạy theo tiến độ số học vô hình trung đẩy nhiều dự án vào tình trạng “xong cho đúng quy trình” nhưng thiếu tính kết nối liên vùng, chậm đưa vào vận hành hoặc hiệu quả khai thác chưa tương xứng với nguồn vốn đầu tư. Cho nên, yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 19 đặt ra không chỉ là việc giải ngân mà là vốn đầu tư công phải đóng vai trò “vốn mồi” kích hoạt các nguồn lực xã hội.
Và để thực hiện được yêu cầu này, vấn đề cốt lõi là phải có những giải pháp đồng bộ về thể chế, công nghệ và trách nhiệm giải trình. Phải chuyển từ quản trị theo đầu vào tức số vốn phân bổ sang quản trị theo đầu ra, tức sức tăng trưởng của nền kinh tế và năng lực hấp thụ nguồn lực. Đặc biệt, không thể coi giải ngân là đích đến mà phải đặt các dự án trong tổng thể quy hoạch, chuỗi giá trị và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Không thể coi đầu tư công là bài toán tài chính trong một năm ngân sách mà phải là công cụ kiến tạo năng lực phát triển dài hạn.
