Tỷ lệ ung thư đại trực tràng ở TP.HCM tăng 1,7 lần: Bác sĩ chỉ ra lý do
Ung thư đại trực tràng nằm trong nhóm 5 ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam. Cứ 10 ca ung thư có một ca mắc bệnh, gần một nửa trường hợp có thể phòng ngừa nếu tầm soát sớm.
Thông tin được bác sĩ chuyên khoa II Vũ Khương An, Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Đại trực tràng, Bệnh viện Bình Dân (TP.HCM), chia sẻ tại buổi sinh hoạt định kỳ của Câu lạc bộ Hậu môn nhân tạo do bệnh viện tổ chức ngày 18/7.

Tại TP.HCM, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng gần 1,7 lần trong khoảng hai thập kỷ qua. Ảnh: Việt Linh.
Tỷ lệ mắc tăng 1,7 lần trong hai thập kỷ
Theo BSCKII Vũ Khương An, ung thư đại trực tràng đang có xu hướng gia tăng tại Việt Nam. Bệnh hiện thuộc nhóm 5 loại ung thư phổ biến nhất và chiếm khoảng 10% tổng số ca ung thư.
Riêng tại TP.HCM, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng khoảng 1,7 lần trong khoảng hai thập kỷ qua. Xu hướng này được cho là liên quan sự thay đổi lối sống đô thị, chế độ ăn ít rau xanh, nhiều thịt đỏ và thực phẩm chế biến sẵn.
Điều đáng lo ngại là gần một nửa số ca ung thư đại trực tràng có thể phòng ngừa được nếu người dân được trang bị kiến thức đúng và thực hiện tầm soát đúng thời điểm.
Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân khiến nhiều bệnh nhân đến viện muộn là nhầm lẫn triệu chứng ung thư với bệnh trĩ.
Bác sĩ An khuyến cáo người dân không nên chủ quan khi xuất hiện 5 dấu hiệu cảnh báo gồm:
Đi ngoài ra máu kéo dài trên hai tuần dù lượng máu ít;
Thay đổi thói quen đại tiện như táo bón và tiêu chảy xen kẽ;
Phân dẹt bất thường như bút chì;
Đau bụng âm ỉ kéo dài không rõ nguyên nhân, dùng thuốc không cải thiện;
Sụt cân không rõ nguyên nhân kèm mệt mỏi, xanh xao.
"Đừng tự chẩn đoán là bệnh trĩ. Hãy đi nội soi để loại trừ ung thư, đặc biệt nếu bạn trên 40 tuổi", BSCKII Vũ Khương An nhấn mạnh.
Mang hậu môn nhân tạo vẫn có thể sống bình thường
Theo vị chuyên gia, với những trường hợp ung thư tiến triển, người bệnh có thể phải mở hậu môn nhân tạo - một lỗ mở trên thành bụng để đưa ruột ra ngoài, giúp chất thải đi vào túi chuyên dụng.
Hậu môn nhân tạo có thể chỉ mang tính tạm thời và được đóng lại sau 1-6 tháng khi miệng nối ruột đã lành. Tuy nhiên, nếu khối u nằm quá thấp và buộc phải cắt bỏ toàn bộ cơ thắt hậu môn, người bệnh sẽ phải mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn.

Bác sĩ chia sẻ với bệnh nhân tại buổi sinh hoạt định kỳ của Câu lạc bộ Hậu môn nhân tạo. Ảnh: BVCC.
Để giúp người bệnh thêm tự tin, bác sĩ chia sẻ hai trường hợp điều trị tại khoa. Một bệnh nhân nam sinh năm 1985 nhập viện trong tình trạng tắc ruột do ung thư, trải qua ba lần phẫu thuật và hóa trị. Đến tháng 3/2026, bệnh nhân đã được đóng hậu môn nhân tạo thành công và không còn phải mang túi.
Trong khi đó, một bệnh nhân sinh năm 1964 được phẫu thuật robot cắt toàn bộ trực tràng từ năm 2022, hiện sống với hậu môn nhân tạo vĩnh viễn nhưng vẫn duy trì thói quen đạp xe mỗi sáng, tập thể dục đều đặn và ăn uống bình thường sau bốn năm.
Theo BSCKII Vũ Khương An, những trường hợp này cho thấy người mang hậu môn nhân tạo hoàn toàn có thể bơi lội, đi du lịch, làm việc, tham gia các hoạt động xã hội và mặc trang phục theo sở thích nếu biết cách chăm sóc đúng.
Trong giai đoạn đầu sau phẫu thuật, người bệnh cần hạn chế thực phẩm dễ sinh hơi, uống đủ nước và nhai kỹ. Sau khi sức khỏe ổn định, chế độ ăn có thể trở lại đa dạng như bình thường.
Bác sĩ cũng cho biết cảm giác lo lắng, buồn bã hay mặc cảm sau khi mang hậu môn nhân tạo là điều thường gặp. Sự đồng hành của gia đình, điều dưỡng chuyên trách và các câu lạc bộ hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người bệnh thích nghi với cuộc sống mới.
Một nghiên cứu quốc tế công bố năm 2025 trên tạp chí Frontiers in Psychology cũng cho thấy những người chủ động chăm sóc hậu môn nhân tạo có chất lượng cuộc sống cao hơn đáng kể so với nhóm còn phụ thuộc vào người khác.
Sau điều trị, người bệnh cần tái khám định kỳ, xét nghiệm chất chỉ điểm ung thư CEA mỗi 3-6 tháng và nội soi đại tràng theo lịch hẹn để phát hiện sớm nguy cơ tái phát.
Đặc biệt, người thân trực hệ của bệnh nhân như cha mẹ, anh chị em ruột và con cái có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng cao gấp 2-3 lần dân số chung. Nhóm này nên bắt đầu nội soi tầm soát từ 40 tuổi hoặc sớm hơn 10 năm so với tuổi được chẩn đoán bệnh của người thân.












