Ứng dụng công nghệ trong công tác công tố, kiểm sát qua vụ án ma túy liên quan đến tiếp viên hàng không
Việc số hóa, hệ thống hóa hồ sơ và khai thác dữ liệu điện tử đang hỗ trợ trực tiếp cho công tác công tố, kiểm sát, giúp Kiểm sát viên chủ động hơn trong nghiên cứu, đánh giá, đối chiếu chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa.
Thực tiễn từ vụ án ma túy liên quan đến tiếp viên hàng không (chuyên án VN10) vừa được Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh tuyên án ngày 3/9 cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ khi xử lý một vụ án có qui mô đặc biệt lớn.

Phiên tòa xét xử 227 bị cáo trong chuyên án ma túy VN10 được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Số hóa hồ sơ, thay đổi phương pháp công tố
Bà Huỳnh Thị Ngọc Hoa, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh cho biết, ngay sau khi chuyên án VN10 được khởi tố, lãnh đạo Viện đã chỉ đạo xây dựng hồ sơ kiểm sát điện tử; đồng thời phân công Kiểm sát viên phối hợp với Cơ quan điều tra cập nhật, số hóa và hệ thống hóa chứng cứ ngay từ giai đoạn điều tra. Ứng dụng công nghệ không chỉ là chuyển hồ sơ giấy thành file điện tử mà quan trọng hơn là tổ chức lại phương pháp quản lý và khai thác hồ sơ. Tài liệu được phân loại theo từng vụ án, từng bị cáo, nhóm hành vi, tội danh và từng vấn đề cần chứng minh. Qua đó, Kiểm sát viên có thể nhanh chóng tra cứu, đối chiếu, kiểm tra chứng cứ, phục vụ xét hỏi, tranh luận và đối đáp tại phiên tòa.
Cách làm này đặc biệt có ý nghĩa với VN10, vụ án được mở rộng điều tra từ vụ 4 nữ tiếp viên hàng không vận chuyển ma túy từ Pháp về Việt Nam qua sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Ngày 16/3/2023, lực lượng Hải quan sân bay phát hiện 327 tuýp kem đánh răng trong hành lý của 4 nữ tiếp viên, trong đó 157 tuýp chứa hơn 11kg ma túy. Từ vụ việc này, cơ quan chức năng xác lập chuyên án VN10, tiếp tục truy xét, làm rõ từng mắt xích trong đường dây.
Ngày 3/9, sau gần 20 ngày xét xử, tranh luận và nghị án, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh tuyên án đối với 227 bị cáo trong chuyên án VN10. Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình 11 bị cáo cùng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 20 bị cáo khác nhận án tù chung thân về cùng tội danh. Các bị cáo còn lại nhận mức án từ 1 năm 6 tháng tù treo đến 29 năm tù về nhiều tội danh.
Theo hồ sơ vụ án, đường dây được tổ chức thành nhiều tầng, với dòng tiền giao dịch gần 29.000 tỷ đồng; hơn 2.700 bị can bị khởi tố trong 477 vụ án, riêng chuyên án VN10 có 227 bị cáo. Các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn để che giấu hoạt động phạm tội, trong đó có ngụy trang ma túy trong hàng hóa, sử dụng dịch vụ gom hàng, chuyển phát nhanh quốc tế, các ứng dụng nhắn tin có tính bảo mật cao và tài khoản ngân hàng không chính chủ. Với khối lượng hồ sơ và mối liên hệ phức tạp giữa các hành vi, việc tổ chức dữ liệu theo cấu trúc rõ ràng giúp Kiểm sát viên giảm thời gian tìm kiếm, đồng thời kiểm soát tốt hơn các nhóm chứng cứ. Hồ sơ điện tử giúp Kiểm sát viên truy xuất lời khai, dữ liệu điện tử, kết luận giám định, tài liệu ngân hàng và các chứng cứ liên quan để kiểm tra, đối chiếu trực tiếp tại phiên tòa. Công nghệ qua đó làm thay đổi phương pháp nghiên cứu hồ sơ, nhưng cũng đòi hỏi Kiểm sát viên có tư duy hệ thống, kỹ năng công nghệ và khả năng xử lý nhanh các tình huống tranh tụng.
Khai thác dữ liệu để đánh giá chứng cứ
Ông Đinh Quốc Dũng, Phó Trưởng phòng Công tố và Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh, ma túy (Phòng 1), Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh cho biết, hồ sơ điện tử được hệ thống theo từng vụ án, từng bị cáo, nhóm hành vi và từng vấn đề cần chứng minh. Tài liệu quan trọng được lập danh mục, đánh dấu và liên kết với lời khai, vật chứng, kết luận giám định và dữ liệu điện tử. Khi xét hỏi, tranh luận, Kiểm sát viên có thể nhanh chóng truy xuất tài liệu để đối chiếu lời khai của bị cáo. Với những vấn đề mâu thuẫn, nhiều nguồn chứng cứ được kiểm tra đồng thời; đồng thời xác định diễn biến theo thời gian và vai trò từng người. Nhờ đó, việc xét hỏi, đối đáp chủ động, chính xác hơn, hạn chế nhầm lẫn.
Một yêu cầu quan trọng của VN10 là cá thể hóa trách nhiệm đối với 227 bị cáo. Hồ sơ điện tử được xây dựng theo nguyên tắc không đánh giá chung toàn bộ đường dây mà xác định hành vi, thời gian tham gia, loại và khối lượng ma túy, vai trò, chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và các tình tiết liên quan của từng bị cáo. Cách tổ chức này giúp Kiểm sát viên kiểm soát chặt chẽ căn cứ truy tố, đề nghị hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi, bảo đảm nghiêm minh nhưng không cào bằng. Dữ liệu chỉ được sử dụng khi thu thập, bảo quản và kiểm tra đúng qui định. Kiểm sát viên không xem xét một dữ liệu riêng lẻ mà đối chiếu với lời khai, vật chứng, kết luận giám định, dữ liệu liên lạc, giao dịch ngân hàng và các tài liệu khách quan khác. Khi cần thiết, tài liệu được trình chiếu hoặc công bố để cùng kiểm tra, phát biểu ý kiến.
Trường hợp 4 nữ tiếp viên hàng không là một ví dụ. Cơ quan tiến hành tố tụng đã đối chiếu lời khai với dữ liệu điện thoại, nội dung liên lạc trên viber, tài khoản ngân hàng, lịch trình chuyến bay, quá trình nhận hàng, chia hàng vào 4 vali và mức tiền công thỏa thuận. Kết quả xác minh cho thấy, các tiếp viên nhận vận chuyển hàng hóa thuê nhưng không biết bên trong có ma túy, không đủ căn cứ xác định lỗi cố ý nên không bị xử lý hình sự.
Theo ông Nguyễn Đình Thi, Kiểm sát viên trung cấp, Phòng Công tố và Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh, ma túy (Phòng 1), Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh, việc ứng dụng công nghệ và khai thác dữ liệu điện tử không chỉ phục vụ chứng minh tội phạm mà còn giúp kiểm tra chứng cứ gỡ tội, bảo đảm không làm oan người không có hành vi phạm tội.
Qua chuyên án VN10, công nghệ cho thấy giá trị khi gắn trực tiếp với chất lượng công tố và kiểm sát xét xử. Tuy nhiên, số hóa phải chính xác; hệ thống, thiết bị và đường truyền phải ổn định, có phương án dự phòng. Đồng thời, Kiểm sát viên phải rèn luyện kỹ năng công nghệ nhưng không phụ thuộc vào công nghệ. Sự am hiểu hồ sơ, khả năng lập luận, bản lĩnh tranh tụng và trách nhiệm của người thực hành quyền công tố vẫn là yếu tố quyết định. Hồ sơ điện tử giúp Kiểm sát viên làm chủ chứng cứ, nhưng mỗi lập luận vẫn phải dựa trên chứng cứ hợp pháp, được kiểm tra công khai và đối đáp tại phiên tòa.
