Ứng dụng hiệu quả khoa học, công nghệ để giảm thiệt hại do thiên tai gây ra
Những năm gần đây, nhất là giai đoạn 2024-2025, diễn biến thời tiết, thiên tai ở Việt Nam ngày càng cực đoan, khó lường, gây thiệt hại lớn trên diện rộng. Yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay là phải đẩy mạnh ứng dụng hiệu quả khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm để chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
Thiên tai cực đoan gia tăng, diễn biến khó lường
Tại Hội thảo khoa học “Công nghệ mới trong dự báo và cảnh báo sớm thiên tai” do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai tổ chức ngày 18-3-2026, đồng chí Lê Công Thành, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: Thiên tai trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang gia tăng cả về tần suất, cường độ và mức độ cực đoan dưới tác động rõ nét của biến đổi khí hậu.

Hệ thống cảnh báo sớm thiên tai được lắp đặt tại xã Đất Mũi, tỉnh Cà Mau. Ảnh: LA QUANG DUY
Thực tế những năm gần đây, đặc biệt là các năm 2024, 2025, nhiều hiện tượng thời tiết nguy hiểm đã liên tiếp xảy ra với tần suất dày, quy mô rộng và diễn biến bất thường hơn. Mưa lớn cục bộ gây lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền núi phía Bắc; bão mạnh, mưa lớn kéo dài ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên; hạn hán, xâm nhập mặn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Theo TS Nguyễn Xuân Hiển, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, Cục Khí tượng Thủy văn, thiên tai ở Việt Nam hiện nay không chỉ gia tăng về tần suất mà còn có nhiều hiện tượng “chưa từng có tiền lệ”, như các đợt mưa lũ kỷ lục trên diện rộng hay hạn hán, xâm nhập mặn lịch sử. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ biến đổi khí hậu toàn cầu, trong khi hệ thống quan trắc, dữ liệu và công nghệ dự báo chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng sai số trong dự báo cường độ bão, định lượng mưa lớn còn gặp khó khăn do thiếu dữ liệu chi tiết và thời gian thực, nhất là khả năng cảnh báo lũ quét, sạt lở đất chi tiết đến từng khu dân cư. Đây là “điểm nghẽn” cần sớm được tháo gỡ.
Đột phá công nghệ để nâng cao năng lực dự báo
Từ thực trạng tình hình thiên tai diễn biến ngày càng khó lường, ngành khí tượng thủy văn xác định công nghệ phải là “chìa khóa” nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm. Theo TS Nguyễn Xuân Hiển, ngành khí tượng thủy văn hiện đang vận hành siêu máy tính CRAY cho phép cung cấp dữ liệu dự báo thời tiết với lưới tính độ phân giải cao 3km x 3km. Các mô hình dự báo số trị hiện đại như GSM (Nhật Bản), GFS (Hoa Kỳ), ECMWF (châu Âu), các mô hình khu vực như WRF-ARW, WRF-IFS, WRF-DA được khai thác hiệu quả, góp phần nâng cao độ chính xác trong dự báo mưa từ 1 đến 10 ngày. Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dự báo quỹ đạo và cường độ bão đang mang lại những bước tiến quan trọng. Các mô hình học máy tổ hợp giúp cải thiện đáng kể chất lượng dự báo, nhất là đối với các cơn bão mạnh trong hạn ngắn.
Đề cập đến các giải pháp công nghệ mới, TS Bùi Du Dương, Phó viện trưởng Viện Khoa học Tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng, mô hình tích hợp Hybrid-kết hợp dữ liệu hiện trường với mô hình dự báo số đang phát huy hiệu quả. Phương pháp này giúp tận dụng ưu điểm của nhiều nguồn dữ liệu, nâng cao độ chính xác và giảm thiểu sự không chắc chắn trong dự báo. Giải pháp Hybrid cho phép dự báo mưa trước từ 16 ngày đến 6 tháng, đồng thời cập nhật liên tục, hỗ trợ hiệu quả trong vận hành hồ chứa và lập kế hoạch sản xuất. Ở lĩnh vực tài nguyên nước, PGS, TS Hà Hải Dương, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của viễn thám và AI trong giám sát, dự báo hạn hán. Thông qua khai thác dữ liệu vệ tinh kết hợp với các mô hình khí hậu, thủy văn, các chỉ số hạn hán, có thể theo dõi liên tục diễn biến nguồn nước trên phạm vi rộng, giúp cơ quan quản lý chủ động điều hành nguồn nước, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, giảm thiểu rủi ro.
Đưa cảnh báo đến người dân nhanh nhất, hiệu quả nhất
Không chỉ dừng lại ở dự báo, cảnh báo, việc truyền tải thông tin cảnh báo đến người dân được các chuyên gia xác định là khâu then chốt. Theo ThS Bùi Quang Huy, Phó giám đốc Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng, chống thiên tai, để người dân hiểu, chủ động ứng phó, rất cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đồng bộ, liên thông từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”. Việc tích hợp dữ liệu quan trắc, dữ liệu hiện trường và thông tin từ cộng đồng vào các nền tảng số sẽ cho phép giám sát theo thời gian thực, phân tích, phát hành cảnh báo kịp thời, dẫn hành động cụ thể.


Cán bộ Cục Khí tượng Thủy văn sử dụng các công nghệ hiện đại để dự báo khí tượng thủy văn. Ảnh: LA QUANG DUY
Bên cạnh đó, cần phát triển nền tảng truyền thông đa kênh, tận dụng thiết bị di động, mạng xã hội để đưa thông tin đến người dân nhanh chóng, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, việc xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định, cơ sở dữ liệu đồng bộ và bản đồ rủi ro thiên tai gắn với phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, khả năng ứng phó của các lực lượng phòng, chống thiên tai cơ sở, cộng đồng. Khi các nền tảng viễn thám, AI và IoT được kết nối đồng bộ sẽ hình thành hệ thống cảnh báo sớm hiện đại, phục vụ hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai.
Quy hoạch, công trình và giải pháp thích ứng bền vững
Từ thực tiễn thiên tai ngày càng cực đoan, các chuyên gia cho rằng, cùng với đột phá công nghệ, việc hoàn thiện quy hoạch và đầu tư hạ tầng thích ứng là giải pháp mang tính nền tảng, quyết định hiệu quả lâu dài trong phòng, chống thiên tai. Theo TS Nguyễn Xuân Hiển, một trong những hạn chế lớn hiện nay là thiếu dữ liệu chi tiết về địa hình, địa chất và phân bố dân cư theo thời gian thực. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến độ chính xác của dự báo mà còn gây khó khăn trong quy hoạch không gian phát triển. Vì vậy, cần gắn chặt công tác quy hoạch dân cư với dữ liệu khoa học, đặc biệt là tại khu vực có nguy cơ cao như vùng núi phía Bắc, ven sông, ven suối. Việc di dời, sắp xếp lại dân cư phải dựa trên bản đồ rủi ro thiên tai, do đó cần phải được cập nhật thường xuyên, tránh tình trạng tái lấn chiếm vùng nguy hiểm.
PGS, TS Hà Hải Dương nhấn mạnh, việc ứng dụng viễn thám, AI và các mô hình thủy văn hiện đại cho phép xây dựng hệ thống bản đồ rủi ro hạn hán, xâm nhập mặn, từ đó làm cơ sở khoa học cho bố trí sản xuất, điều chỉnh cơ cấu cây trồng, phân bổ nguồn nước hợp lý. Đồng thời, cần triển khai đồng bộ các đề án bảo đảm an toàn đập, hồ chứa, tăng cường khả năng điều tiết nước, giảm thiểu rủi ro cho hạ du.
Các chuyên gia cũng cho rằng, việc vận hành hồ chứa cần chuyển mạnh sang mô hình thông minh, theo thời gian thực, giúp tối ưu hóa việc tích nước, xả lũ, bảo đảm an toàn cho vùng hạ du và nâng cao hiệu quả khai thác. Đây là hướng đi quan trọng trong bối cảnh biến động thời tiết ngày càng khó lường. Nhất là cần chuyển tư duy từ "ứng phó thụ động" sang "quản lý rủi ro chủ động" trong công tác phòng, chống thiên tai; đồng thời xây dựng các kịch bản ứng phó cụ thể, sát từng địa phương, loại hình thiên tai. Việc phát triển bản đồ số rủi ro, hệ thống hỗ trợ ra quyết định sẽ giúp chính quyền và người dân chủ động hơn trong phòng tránh, sơ tán, giảm thiểu thiệt hại. Khi quy hoạch, công trình, công nghệ được triển khai đồng bộ, gắn với nâng cao nhận thức, kỹ năng của người dân sẽ tạo nên “lá chắn” vững chắc, giúp các địa phương vừa ứng phó hiệu quả với thiên tai, vừa ổn định sản xuất, phát triển kinh tế-xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.












