Ưu đãi khấu trừ 200% chi phí R&D nhưng doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận
Nhiều doanh nghiệp sản xuất linh kiện tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng vẫn gặp khó khi xin hưởng ưu đãi do vướng điều kiện chứng minh sản phẩm và thủ tục hồ sơ phức tạp...

Ảnh minh họa
Đây là một trong những vấn đề được nêu trong báo cáo tổng hợp khó khăn, vướng măc liên quan đến các chính sách khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phản ánh nhanh hiện trạng thực thi nghị quyết số 68-NQ/TW do Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) vừa công bố.
KHÓ MINH CHỨNG DOANH NGHIỆP THUỘC LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Theo phản ánh của các hiệp hội và doanh nghiệp, mặc dù Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 205/2025/NĐ-CP) đã quy định tương đối rõ về khái niệm và các hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ, song trên thực tế việc xác định và chứng minh doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này vẫn còn nhiều khó khăn.
Nhiều doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thậm chí có giá trị xuất khẩu hàng phụ trợ lên tới hàng chục triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, khi thực hiện hồ sơ xin hưởng các chính sách ưu đãi, doanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc chứng minh sản phẩm thuộc danh mục công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển hoặc chứng minh đáp ứng tiêu chí của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Theo Ban IV, tình trạng này khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận các chính sách hỗ trợ về tín dụng, thuế, đất đai hoặc các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, từ đó làm giảm hiệu quả thực thi của chính sách.
Bên cạnh đó, các điều kiện hồ sơ để được hưởng ưu đãi theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 205/2025/NĐ-CP được cho là vẫn còn một số điểm chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.
Đơn cử như trường hợp của một doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ nhiều năm trước, khi xin hưởng ưu đãi theo cơ chế dành cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phải chứng minh dự án mở rộng tối thiểu 20% so với quy mô trước đó. Điều này buộc doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư để bổ sung ngành nghề hoặc mở rộng sản xuất.
Trong quá trình thẩm định, doanh nghiệp phải giải trình nhiều nội dung liên quan đến việc mở rộng dự án, như việc dự án cũ chưa kết thúc nhưng đã bổ sung hạng mục sản xuất mới hoặc việc mở rộng có nhằm mục đích hưởng ưu đãi hay không.
Ngoài ra, trong trường hợp trên cùng một khu đất có hai hoạt động sản xuất công nghiệp hỗ trợ khác nhau, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi đề nghị áp dụng ưu đãi cho cả hai hoạt động.
Sau khi hoàn tất thủ tục điều chỉnh dự án, doanh nghiệp tiếp tục phải thực hiện các thủ tục liên quan như đánh giá tác động môi trường (ĐTM), quá trình này có thể kéo dài gần một năm và phát sinh chi phí đáng kể.
Một số yêu cầu kỹ thuật để chứng minh sản phẩm thuộc danh mục công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển cũng được doanh nghiệp cho là chưa phù hợp với thực tế. Theo quy định tại Điều 11 của Nghị định 205/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp cần có chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật của Ủy ban Tiêu chuẩn hóa châu Âu (CEN) hoặc tương đương. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cho biết sản phẩm của họ chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường như Nhật Bản, nơi không yêu cầu tiêu chuẩn này.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất linh kiện – vốn là đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất khác – việc đạt chứng nhận CEN thường không cần thiết, trong khi chi phí để đạt các tiêu chuẩn này khá cao và thường phù hợp hơn với các doanh nghiệp sản xuất thành phẩm.
Theo Ban IV, mặc dù hệ thống văn bản đã đưa ra nhiều chính sách nhằm hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ, nhưng trên thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận được các ưu đãi này do điều kiện và thủ tục thực hiện còn phức tạp, chưa sát với thực tiễn sản xuất.
VƯỚNG MẮC TRONG ƯU ĐÃI THUẾ ĐỐI VỚI CHI PHÍ R&D
Báo cáo cũng phản ánh những khó khăn trong việc thực hiện chính sách cho phép tính chi phí được trừ thuế đối với hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo.
Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, các khoản chi cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ tối đa 200% so với chi phí thực tế phát sinh.
Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, việc chuẩn bị hồ sơ để được hưởng chính sách ưu đãi này còn gặp nhiều khó khăn do phải tham chiếu đồng thời nhiều văn bản pháp luật khác nhau, gồm Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng các nghị định hướng dẫn thi hành.
Trong đó, Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định các điều kiện chi phí được trừ về mặt thuế, trong khi Nghị định số 265/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về nội dung chi và hồ sơ của hoạt động nghiên cứu, phát triển. Tuy nhiên, hiện chưa có hướng dẫn liên thông giữa hai hệ thống quy định này.
Theo doanh nghiệp, điều này khiến quá trình xác định hồ sơ và thủ tục cần thiết để chứng minh chi phí R&D hợp lệ gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, hồ sơ đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển hiện bao gồm nhiều loại tài liệu như báo cáo tiến độ, nhật ký thí nghiệm, báo cáo thử nghiệm, báo cáo nghiệm thu và báo cáo kết quả nghiên cứu. Doanh nghiệp cũng phải cung cấp các minh chứng về kết quả nghiên cứu như sản phẩm mẫu, đơn đăng ký sáng chế, bài báo khoa học hoặc giấy chứng nhận sở hữu trí tuệ.
Theo các hiệp hội và doanh nghiệp, cách thức quản lý này tương tự cơ chế quản lý các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, trong khi hoạt động R&D trong doanh nghiệp – đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới – có mức độ rủi ro cao và không phải lúc nào cũng tạo ra kết quả nghiên cứu cụ thể.
Các hiệp hội và doanh nghiệp kiến nghị cơ quan thuế tại các địa phương phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp về điều kiện liên quan đến chi phí khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, đề nghị sớm ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định số 265/2025/NĐ-CP, trong đó quy định rõ quy trình và biểu mẫu để doanh nghiệp triển khai các hoạt động chi cho nghiên cứu và phát triển.
Bên cạnh đó, các hiệp hội và doanh nghiệp cũng kiến nghị đơn giản hóa hồ sơ đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là yêu cầu chứng minh kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, nhằm phù hợp hơn với đặc thù của hoạt động R&D trong doanh nghiệp.











