Ưu đãi thuế để phát triển chuỗi cung ứng
Việt Nam hiện có hơn 30.000 doanh nghiệp FDI. Dù chỉ chiếm khoảng 3% tổng số doanh nghiệp, khu vực này đóng góp hơn 30% số thu ngân sách từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng cao. Cơ hội từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi doanh nghiệp Việt nâng được năng lực và tiến lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Đòn bẩy thúc đẩy đầu tư, đón dòng vốn
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương) nhận định, các hiệp định thương mại tự do cùng xu hướng “Trung Quốc +1”, “Thái Lan +1” hay “Việt Nam +1” đang tạo thêm dư địa để Việt Nam thu hút dòng vốn và đơn hàng mới; yêu cầu mới về phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và kinh tế số trở thành một phần của năng lực cạnh tranh. Đối với Việt Nam, cơ hội không chỉ nằm ở việc thu hút thêm dự án FDI, mà còn ở khả năng hình thành hệ sinh thái sản xuất có liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Song có một thực tế, phần giá trị mà doanh nghiệp trong nước tạo ra trong chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn chưa tương xứng; xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam vẫn tập trung đáng kể ở những lĩnh vực có giá trị gia tăng chưa cao; các sản phẩm điện tử, linh kiện điện tử phần lớn thuộc khu vực FDI. TS. Đỗ Diệu Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho hay, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% vào năm 2009, xuống 18% vào năm 2023. Trong khi đó, các yêu cầu đối với nhà cung cấp ngày càng mở rộng, từ giá, chất lượng và giao hàng sang dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, môi trường, lao động và quản trị rủi ro. Do đó, bài toán đặt ra hiện nay không chỉ là tăng quy mô xuất khẩu, mà phải nâng vị trí của doanh nghiệp nội địa trong chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh này, chính sách thuế cần được thiết kế như một đòn bẩy thúc đẩy đầu tư vào công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghiệp hỗ trợ và năng lực cung ứng.
Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA) đánh giá, thời gian qua, các chính sách thuế được ban hành đã hỗ trợ rất hiệu quả cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư và đổi mới công nghệ. Đáng chú ý, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (năm 2025) có các chính sách ưu đãi đối với khoa học - công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu AI, sản phẩm số và năng lượng sạch. Nghị định số 320/2025/NĐ-CP và Thông tư số 20/2026/TT-BTC cũng có cơ chế cho phép chi phí R&D đủ điều kiện được tính bổ sung vào chi phí được trừ, tối đa không quá 200% chi phí thực tế. Cơ chế khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) tiếp tục tạo nguồn lực cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo Phó chủ tịch VTCA, các chính sách ưu đãi, miễn, giảm, hoàn thuế cũng phát sinh một số hạn chế. Ưu đãi theo địa bàn có thể dẫn tới doanh nghiệp di chuyển địa điểm để hưởng ưu đãi nhưng năng lực sản xuất không tăng đáng kể. Ưu đãi dựa vào quy mô vốn khiến không nhất thiết doanh nghiệp vốn lớn là doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao. Ưu đãi thuế quá dài dễ tạo ra “doanh nghiệp sống bằng ưu đãi”, sau khi hết ưu đãi thì mất lợi thế. Ưu đãi không gắn với kết quả có thể dẫn đến việc nhà nước giảm thuế nhưng không chắc doanh nghiệp tăng R&D, năng suất, xuất khẩu hay nội địa hóa.

Khi đủ quy mô, đủ năng lực công nghệ và tài chính, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể đáp ứng các đơn hàng lớn từ các tập đoàn đa quốc gia
Gắn với những kết quả có thể đo lường
Trước thực tế chuỗi cung ứng toàn cầu đang có sự điều chỉnh mạnh theo hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất, giảm phụ thuộc vào một thị trường, tăng khả năng chống chịu và rút ngắn chuỗi cung ứng, Việt Nam có cơ hội tiếp nhận thêm các dự án, đơn hàng và công đoạn sản xuất dịch chuyển vào khu vực Đông Nam Á… bà Lê Thị Duyên Hải đề xuất, cần xây dựng gói chính sách “doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng”, trong đó, ưu đãi thuế gắn với những kết quả có thể đo lường như tỷ lệ doanh thu cung ứng cho tập đoàn đa quốc gia, tỷ lệ nội địa hóa, tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, đầu tư R&D và chuyển đổi công nghệ. Cách tiếp cận này sẽ chuyển trọng tâm từ ưu đãi dựa trên quy mô đầu tư hoặc địa điểm, sang ưu đãi dựa trên năng lực và kết quả. Doanh nghiệp muốn được hưởng ưu đãi cần chứng minh sự cải thiện về công nghệ, năng lực sản xuất, chất lượng hoặc khả năng cung ứng cho thị trường quốc tế.
Đối với doanh nghiệp tiếp nhận các đơn hàng mới khi chuỗi cung ứng dịch chuyển vào Việt Nam, chính sách cũng có thể nghiên cứu hỗ trợ đầu tư máy móc, khấu hao nhanh và ưu đãi thuế đối với phần thu nhập tăng thêm trong thời hạn nhất định. Điều kiện hưởng ưu đãi cần gắn với đơn hàng mới, tăng công suất, lao động kỹ thuật, doanh thu xuất khẩu hoặc doanh thu cung ứng cho doanh nghiệp FDI. Cùng với đó, cải cách hoàn thuế GTGT theo hướng dựa trên mức độ tuân thủ và quản lý rủi ro sẽ giúp doanh nghiệp xuất khẩu rút ngắn thời gian quay vòng vốn. Việc miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị và nguyên liệu chưa sản xuất được trong nước phục vụ công nghệ cao, tự động hóa, bán dẫn, sản xuất xanh và hàng xuất khẩu cũng cần được nghiên cứu theo hướng có điều kiện.
Theo các chuyên gia kinh tế, chính sách thuế sẽ hiệu quả hơn nếu được đặt trong một hệ sinh thái đồng bộ với công nghệ, đào tạo nhân lực, logistics, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Ưu đãi cần có thời hạn, tiêu chí rõ ràng và gắn với kết quả đầu ra, qua đó, vừa hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư, vừa tạo động lực nâng cao năng lực. Khi đó, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ mang lại thêm đơn hàng hay dự án đầu tư cho Việt Nam, mà có thể trở thành cơ hội để doanh nghiệp trong nước chuyển từ gia công, lắp ráp sang những mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, điều quan trọng không chỉ là hỗ trợ để tham gia được vào chuỗi cung ứng mà còn phải từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Để thu hẹp khoảng cách năng lực, bà Vương Thị Oanh, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, doanh nghiệp cần nhanh chóng chuẩn hóa quy trình theo tiêu chuẩn quốc tế, coi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là khoản đầu tư mang tính sống còn thay vì chi phí ngắn hạn. Doanh nghiệp cần sớm xây dựng lộ trình ESG, đầu tư công nghệ, tự động hóa và tăng cường liên kết thay vì hoạt động đơn lẻ, manh mún.
“Chỉ khi hình thành được các liên minh doanh nghiệp đủ quy mô, đủ năng lực công nghệ và tài chính, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể đáp ứng các đơn hàng lớn từ các tập đoàn đa quốc gia”, bà Oanh nhấn mạnh.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/uu-dai-thue-de-phat-trien-chuoi-cung-ung-188218.html
