Ưu điểm giúp loài cà phê dại biến thành 'con cưng' trong các đồn điền
Cà phê Liberica là một giống bản địa ở châu Phi. Hương vị của nó không đậm đà như Arabica, có điều loài cây này khá dễ trồng, cho năng suất cao và mang lại lợi ích kinh tế lớn.

Tác giả: Joseph M. Walsh/ Light Books & NXB Phụ nữ Việt Nam
Tất tần tật về cà phê
Cuốn sách là chuyến hành trình hấp dẫn đưa độc giả băng qua những lục địa, xuyên suốt dòng chảy lịch sử để khám phá nguồn gốc, sự phát triển và sức ảnh hưởng sâu rộng của một trong ba thức uống phổ biến nhất thế giới.
Ưu điểm giúp loài cà phê dại biến thành 'con cưng' trong các đồn điền
Cà phê Liberica là một giống bản địa ở châu Phi. Hương vị của nó không đậm đà như Arabica, có điều loài cây này khá dễ trồng, cho năng suất cao và mang lại lợi ích kinh tế lớn.

Cà phê Liberia ca được nhiều chủ đồn điền ưa chuộng vì khá dễ trồng và chăm sóc. Ảnh minh họa: F.W.
Coffea Liberica hay "cây cà phê Liberia" gần đây, đã trở thành đối thủ của cà phê Ả Rập. Đây là một loài cây bản địa được tìm thấy cả trong điều kiện mọc hoang và canh tác ở bờ tây châu Phi. Cây trồng khi trưởng thành cao từ 4,5-6 m, hình thái phát triển giống như cây thân gỗ.
Thân cây to, mọc rất thẳng, phủ một lớp vỏ màu nâu thẫm. Cành cây cũng khác với cà phê Ả Rập, không có xu hướng mọc ngang, rũ xuống, đồng thời cũng có sức chống chịu tốt hơn và ra trái nhiều hơn. Lá cây cũng to hơn, có chiều dài 20-38 cm và chiều rộng nhất có thể lên tới 10-13 cm.
Chúng có màu xanh lục thẫm, kết cấu chắc và dai, phiến lá không hẹp dần về phía cuống lá. Hoa của giống này cũng thưa hơn (không bao giờ có nhiều hơn sáu đến tám hoa trong một cụm), kích thước to hơn nhiều nhưng không có hương thơm.
Loài cây này ra trái cực kỳ lớn (điều có thể suy ra từ hình thái tương tự cây thân gỗ của Coffea Liberica), chiều dài trung bình đạt tới 2,5-3 cm, có hình elip, đặc trưng là hơi nhọn ở 2 đầu. Nó không có màu đỏ tươi như cà phê Ả Rập mà lúc chín thường ngả màu đỏ bầm, gần với màu nâu, rồi đen đi khi trái khô lại.
Phần vỏ thịt cũng dày hơn, nhiều xơ và nhiều thịt hơn nhưng lại kém mọng nước và không ăn được; phần vỏ trấu cứng và giòn, màu nâu sẫm và không trong suốt. Phần vỏ lụa, chắc hơn, dai hơn và len chặt hơn vào đường rãnh sâu, hẹp trên bề mặt hạt. Hạt cũng có kích thước cực lớn, hình dạng đặc biệt, cà phê culi của loài này có màu nâu sẫm, rắn chắc, trọng lượng khá nặng và hương vị rất đậm đà.
Tóm lại, sự khác biệt lớn về hình dạng và hình thái phát triển của giống cây này, từ kiểu hình của lá, số lượng hoa ít hơn, kích cỡ, trọng lượng, màu sắc, sự sắp xếp đặc biệt, là dấu hiệu cho thấy nó là một loài riêng biệt trong chi Coffea.
Gần đây, người ta đã dành nhiều sự chú ý hơn cho giống cây cà phê này [1]. Nó là cây bản địa của Liberia, rất nhiều cây mọc hoang được tìm thấy suốt dọc bờ biển Guinea, khác biệt với cây bụi thông thường nhờ đặc tính phát triển mạnh mẽ hơn, mọc trên cả vùng đất thấp bằng phẳng, bờ biển, lẫn sườn đồi, đạt tới kích thước lớn hơn và chịu được khí hậu khắc nghiệt hơn.
Giống cây này còn có ưu thế khác là khả năng cải thiện khi được nuôi trồng và cũng dễ nhiễm bệnh như cây cà phê Ả Rập nhưng có vẻ chỉ bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ. Mặt khác, sản phẩm lại có hương vị thô hơn. Dù vậy, đây cũng không bị coi là khuyết điểm vì ta có thể dùng nó để trộn với những loại cà phê ngon hơn, từ đó, tạo ra món đồ uống rẻ hơn nhưng vẫn chuẩn vị.
Gần đây, nhiều thử nghiệm đã được tiến hành ở Ceylon nhằm ghép cây cà phê Ả Rập có hương vị ngon hơn lên gốc của cây cà phê Liberia, từ đó, tạo ra loại cây lai mà người ta kỳ vọng sẽ đem lại lợi nhuận lớn trong tương lai.
Hơn nữa, Liberica là loài phát triển tốt ở vùng thấp và có thể sinh trưởng mạnh mẽ trong những điều kiện không phù hợp cho cây cà phê Ả Rập và nếu nó đáp ứng được những kỳ vọng lạc quan của các chủ đồn điền tại Java, Ceylon, Mexico, Nam Mỹ, những nơi nó đã được gửi tới để thử nghiệm, chắc chắn rằng giống cây này sẽ trở thành một đối thủ đáng gờm của cây cà phê Ả Rập vốn trước nay vẫn độc chiếm sự chú ý của đông đảo các đồn điền.
[1] Cuốn sách này được in lần đầu năm 1892, các nghiên cứu trong sách phù hợp với thời điểm xuất bản.











