Văn bản hợp nhất được trình bày theo quy định kỹ thuật nào?
Cơ quan thực hiện hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật phải trình bày số, ký hiệu, lời nói đầu, nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và phần ký xác thực theo quy định nào?

Sơ đồ bố trí các thành phần thể thức văn bản hợp nhất.
Việc trình bày văn bản hợp nhất phải thực hiện theo Nghị định số 250/2026/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Nghị định này quy định chi tiết Điều 18 của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật số 01/2012/UBTVQH13, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16, về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất.
Đối tượng áp dụng là cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.
Theo Nghị định, kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất gồm: thể thức văn bản hợp nhất; trình bày số, ký hiệu và tên văn bản hợp nhất; trình bày lời nói đầu; trình bày căn cứ ban hành; trình bày nội dung được sửa đổi, sửa đổi, bổ sung hoặc đính chính; trình bày nội dung được bổ sung; trình bày nội dung được bãi bỏ theo quy định tại văn bản khác; trình bày nội dung bị tạm ngưng hiệu lực.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định kỹ thuật trình bày nội dung văn bản hợp nhất trong trường hợp văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành hết hiệu lực do văn bản được quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành hết hiệu lực theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Nghị định cũng quy định về trình bày quy định thi hành trong văn bản hợp nhất; trình bày ghi chú, chú thích trong văn bản hợp nhất đối với quy định, quy chế, điều lệ, danh mục... ban hành kèm theo nếu có; đánh số trang của văn bản hợp nhất; trình bày phần ký xác thực trong văn bản hợp nhất.
Kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất được thực hiện theo hướng dẫn và mẫu quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 250/2026/NĐ-CP.











