Vận dụng cơ chế, phát huy nguồn lực đô thị di sản
HNN - Luật Phát triển đô thị mở thêm công cụ quản trị, chỉnh trang và huy động nguồn lực. Với TP. Huế, yêu cầu đặt ra là vận dụng đúng cơ chế để tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, đồng thời bảo tồn di sản và nâng cao chất lượng sống của người dân. Xung quanh vấn đề này, Huế ngày nay Cuối tuần có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Thị Sửu, TUV, Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách thành phố.

Đồng chí Nguyễn Thị Sửu, TUV, Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách thành phố. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp
Đồng chí Nguyễn Thị Sửu cho biết, Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16 (được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026) mở ra những công cụ quản trị linh hoạt hơn, chứ không phải gói ưu đãi tự động áp dụng cho mọi thành phố. Huế cần xác định rõ cơ chế nào áp dụng trực tiếp, cơ chế nào cần hướng dẫn hoặc quyết định mở rộng phạm vi áp dụng.
Có ba nhóm công cụ cần quan tâm, đó là: Quy hoạch và quản lý không gian đô thị; cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị gắn với chất lượng sống, bảo tồn di sản và hài hòa lợi ích; tổ chức thực hiện các dự án lớn, quan trọng, huy động nguồn lực đầu tư với những thủ tục rút gọn theo quy định của luật.
Nội dung cốt lõi của Luật Phát triển đô thị là tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền đô thị. Theo đồng chí, điều này tạo thuận lợi gì cho Huế?
Cơ hội lớn nhất là đưa quyết định đến gần hơn với thực tiễn và người dân. Hiểu rõ đặc điểm đô thị di sản, đô thị sinh thái, vùng đầm phá, ven biển và những khu vực thường chịu tác động của mưa lớn, ngập lụt, Huế có điều kiện chủ động hơn trong lựa chọn ưu tiên đầu tư, chỉnh trang và quản lý không gian khi được giao thẩm quyền tương ứng.
Phân quyền cũng giúp rút ngắn thời gian xử lý công việc. Thành phố cần xây dựng quy trình phối hợp rõ đầu mối, thời hạn và trách nhiệm giữa các lĩnh vực quy hoạch, đất đai, đầu tư công, bồi thường, tái định cư, xây dựng và bảo tồn di sản. Tuy nhiên, không phải mọi quyền hạn dành cho đô thị đặc biệt đều đương nhiên áp dụng với Huế.
Phân quyền chỉ hiệu quả khi đi cùng nguồn lực, nhân lực, dữ liệu dùng chung và giám sát. Người dân cần biết cơ quan chủ trì, nguyên nhân chậm trễ, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm của đơn vị liên quan. Quyền chủ động càng lớn thì yêu cầu giải trình càng cao.

Luật Phát triển đô thị mở thêm cơ hội cho đô thị di sản phát triển (ảnh minh họa: Hoàng cung Huế). Ảnh: Lê Đình Hoàng
Huế đang gặp vướng mắc về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng và các dự án chậm triển khai. Luật mới có thể giúp thành phố tháo gỡ như thế nào?
Không nên xem Luật Phát triển đô thị là giải pháp tự động tháo gỡ mọi vướng mắc. Các quy định về thu hồi đất, xác định giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn phải tuân thủ pháp luật về đất đai. Muốn xử lý thực chất, cần phân loại rõ nguyên nhân.
Về quy hoạch, thành phố cần rà soát tính thống nhất giữa quy hoạch cấp thành phố, quy hoạch đô thị, phân khu, chi tiết và kế hoạch sử dụng đất; xác định khu vực đủ điều kiện triển khai, cần điều chỉnh và khu vực phải bảo vệ nghiêm ngặt vì giá trị di sản hoặc yêu cầu phòng, chống thiên tai.
Kế hoạch số 483/KH-UBND ngày 22/12/2025 đã đặt nhiệm vụ rà soát, điều chỉnh quy hoạch, nâng tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết và lập quy hoạch chung cho 18/19 xã mới thành lập. Đây là cơ sở để áp dụng cơ chế mới đúng nhu cầu, tránh chồng lấn quy hoạch.
Về giải phóng mặt bằng, cần chuẩn hóa quy trình kiểm đếm, định giá, bồi thường, tái định cư; công khai hồ sơ, thời hạn và đầu mối chịu trách nhiệm. Thành phố cần phân công đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng, quy định thời hạn từng khâu và xử lý tình trạng hồ sơ quá hạn.
Với dự án chậm triển khai, cần phân loại nguyên nhân: Vướng pháp lý, quy hoạch; vướng mặt bằng; thiếu vốn hoặc thủ tục đầu tư; nhà đầu tư không đáp ứng cam kết. Mỗi dự án phải có phương án và thời hạn xử lý cụ thể. Trường hợp cơ quan nhà nước chậm phải làm rõ trách nhiệm; trường hợp nhà đầu tư thiếu năng lực cần xem xét chế tài, điều chỉnh hoặc chấm dứt dự án theo pháp luật. Thủ tục rút gọn không đồng nghĩa bỏ qua yêu cầu về môi trường, di sản và quyền lợi của người dân.
Là đô thị di sản, Huế cần cân bằng giữa bảo tồn và phát triển như thế nào, thưa đồng chí?
Bảo tồn và phát triển không phải hai mục tiêu đối lập. Luật đặt ra yêu cầu bảo vệ di sản văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, kiến trúc, cảnh quan; hài hòa lợi ích và cải thiện sinh kế cộng đồng. Trong phạm vi cơ chế văn hóa được áp dụng, Điều 26 mở ra hướng huy động nguồn lực xã hội, sử dụng tài sản công và ngân sách để bảo vệ, phát triển văn hóa; hỗ trợ tôn tạo khu vực có giá trị, phát triển du lịch, kinh tế ban đêm và công nghiệp sáng tạo văn hóa.
Với Huế, nguồn lực không chỉ nằm ở quỹ đất xây dựng mới mà còn ở Quần thể di tích Cố đô, sông Hương, nhà vườn, kiến trúc truyền thống, làng nghề, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực và lễ hội. Thành phố có thể phát triển tuyến trải nghiệm di sản, hỗ trợ nghệ nhân, chủ nhà vườn và cơ sở văn hóa; khuyến khích hợp tác công - tư trong tu bổ, vận hành các địa điểm đủ điều kiện. Nguồn thu cần quay trở lại phục vụ bảo tồn, duy tu, truyền nghề và nâng cao chất lượng sống của cư dân.
Nghị quyết số 28/2026/QH16 và Nghị định số 282/2026/NĐ-CP quy định cơ chế thí điểm đô thị di sản văn hóa, trong đó có thể xem xét ưu đãi về đất đai, phí và lệ phí đối với hoạt động đủ điều kiện. Tuy nhiên, việc thí điểm phải xác định rõ địa bàn, đáp ứng tiêu chí và tuân thủ pháp luật về di sản.
Huế cần xác định ranh giới bảo vệ, vùng chuyển tiếp; quản lý chiều cao, hình khối, vật liệu, tầm nhìn cảnh quan; bảo vệ yếu tố gốc và quyền thực hành văn hóa của cộng đồng. Phát triển đúng nghĩa là người dân sống tốt hơn nhờ di sản và di sản được gìn giữ tốt hơn nhờ nguồn lực phát triển.
Thành phố cần ưu tiên những việc gì để luật sớm đi vào cuộc sống? Quốc hội, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện, hướng dẫn nội dung nào?
Trước hết, Huế cần lập chương trình triển khai với đầu mối, sản phẩm và thời hạn cụ thể; rà soát từng điều, khoản để xác định nội dung áp dụng trực tiếp, nội dung cần hướng dẫn và nội dung cần Chính phủ quyết định phạm vi áp dụng theo khoản 3, khoản 5 Điều 1. Đồng thời, rà soát quy hoạch, dự án trọng điểm và các vướng mắc về đất đai, hạ tầng, di sản để kiến nghị đúng thẩm quyền.
Thứ hai, xây dựng danh mục dự án ưu tiên khả thi, gồm giao thông kết nối; thoát nước, xử lý nước thải, chống ngập; chỉnh trang khu dân cư; không gian xanh, công cộng; nhà ở xã hội, tái định cư và bảo tồn di sản. Mỗi dự án cần xác định nguồn vốn, điều kiện pháp lý, nhu cầu mặt bằng, tác động cộng đồng, thời hạn hoàn thành và đơn vị chịu trách nhiệm. Danh mục phải được công khai, cập nhật định kỳ.
Thứ ba, thành phố cần chuẩn bị hồ sơ đề xuất phạm vi thí điểm đô thị di sản văn hóa, xác định địa bàn, tiêu chí bảo tồn, mô hình quản lý, nguồn lực và cơ chế bảo đảm lợi ích cộng đồng. Cùng với đó là xây dựng dữ liệu số dùng chung về quy hoạch, đất đai, đầu tư, di sản và giải phóng mặt bằng.
Chính phủ cần sớm làm rõ phạm vi, điều kiện áp dụng luật đối với Huế; hướng dẫn mối quan hệ giữa các loại quy hoạch, thủ tục rút gọn đối với dự án lớn, quan trọng và cơ chế phối hợp giữa thành phố với cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đồng thời, rà soát tính thống nhất với pháp luật về đất đai, đầu tư công, đối tác công tư, xây dựng, tài sản công, môi trường và di sản. Nghị định số 378/2026/NĐ-CP đã quy định chi tiết một số nội dung liên quan khu kinh tế đặc biệt và các mô hình kinh tế; những nội dung Huế cần để triển khai luật cũng cần tiếp tục được làm rõ.
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội cần giám sát việc ban hành văn bản hướng dẫn lẫn kết quả thực thi, thông qua thời gian xử lý thủ tục, số dự án được tháo gỡ, tỷ lệ bàn giao mặt bằng đúng hạn, chất lượng môi trường, mức độ hài lòng và sinh kế của người dân. Nếu cơ chế mới chưa giải quyết được vướng mắc thực tế, cần kịp thời tổng kết, điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật...

