Vận hành linh hoạt hồ, đập để ứng phó với bất thường của thiên tai
Việc ứng dụng công nghệ được ví như 'chìa khóa' để vận hành hiệu quả hệ thống đập, hồ thủy lợi, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình thiên tai được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, đặt ra trách nhiệm ngày càng lớn của chính quyền cơ sở trong phòng, chống thiên tai.

Công trình thủy lợi được ví như “lá chắn” giảm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Ảnh ST
Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường - NNMT) Nguyễn Tùng Phong qua trao đổi với Báo Kiểm toán.
Thưa ông, việc quản lý đập, hồ thủy lợi có vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp. Xin ông cho biết thực trạng quản lý hồ, đập hiện nay và những tác động của công tác này đối với việc phòng ngừa, ứng phó thiên tai?
Hiện cả nước có khoảng 7.315 đập, hồ chứa thủy lợi, trong đó có 592 đập dâng có chiều cao trên 5m và 6.723 hồ chứa thủy lợi (4 hồ quan trọng đặc biệt, 895 hồ lớn, 1.540 hồ vừa và 4.284 hồ nhỏ, với 213 hồ chứa có cửa van điều tiết). Tổng dung tích trữ khoảng 15 tỷ m³, tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp và cấp khoảng 1,5 tỷ m³ nước cho sinh hoạt, công nghiệp cũng như ngành kinh tế khác.

Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi Nguyễn Tùng Phong. Ảnh: N.Lộc
Thời gian qua, công tác quản lý an toàn đập đã nhận được sự quan tâm của Nhà nước, các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về An toàn đập được cập nhật, hoàn thiện; bố trí kinh phí để thực hiện các quy định của pháp luật sửa chữa nâng cấp... Vì vậy, năm 2025, mặc dù mưa lũ cực đoan liên tục xảy ra, nhưng không có sự cố lớn về công trình; các hồ chứa lớn có cửa van đã vận hành hợp lý góp phần cắt giảm lũ hiệu quả cho vùng hạ du, từ đó góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
Đến nay, Cục đã gắn mã định danh cho một nửa trong số hơn 86.000 công trình và đang phối hợp để hoàn thiện chuẩn cơ sở dữ liệu ngành, trước hết với các hồ chứa nước. Tới đây, cơ quan này tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, với định dạng thống nhất để các địa phương cùng cập nhật; xây dựng phần mềm hỗ trợ ra quyết định dùng chung cho quản lý, vận hành hồ chứa.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý an toàn đập tại một số công trình đập, hồ thủy lợi còn một số hạn chế, bất cập như: 30% số hồ có phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp, 51% số hồ có phương án bảo vệ, 9% số hồ được kiểm định an toàn đập, 31% số hồ có quy trình vận hành, 19% số hồ lắp đặt thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng và chỉ 11% số hồ cắm mốc phạm vi bảo vệ...
Quy trình hiện hành còn nặng tính “ổn định”, trong khi thực tế số liệu mưa, lũ biến động rất nhanh, yêu cầu cách tiếp cận vận hành linh hoạt hơn. Từ thực tế đó, công tác quản lý đập, hồ thủy lợi cần chuyển hướng sang tiếp cận “quản lý rủi ro và quản trị rủi ro”, quản lý thống nhất theo lưu vực và liên lưu vực sông, thay vì chỉ nhìn từng hồ hay từng ngành.
Trong công tác quản lý các đập, hồ chứa nước, vấn đề dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu số đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo vận hành hồ, đập hiệu quả. Ông đánh giá ra sao về khả năng kết nối dữ liệu tại các công trình này?
Vấn đề dữ liệu về đập, hồ thủy lợi có tác động quyết định đến công tác quản lý, vận hành công trình, đặc biệt là trong phòng ngừa, ứng phó thiên tai.
Bộ NNMT đã xây dựng trang thông tin điện tử http://thuyloivietnam.vn từ năm 2016, tuy nhiên mới có khoảng 900 hồ chứa có thông số kỹ thuật tương đối đầy đủ, các hồ chứa còn lại thiếu nhiều thông tin. Hầu hết các tỉnh chưa xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu, công tác lưu trữ dữ liệu hồ chứa thực hiện bằng thủ công.
Về hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng và phần mềm quản lý giám sát, hỗ trợ vận hành: Hiện có khoảng 100 hồ chứa lớn có cửa van đã được lắp đặt thiết bị quan trắc mưa tự động và xây dựng phần mềm quản lý giám sát dự báo lũ. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ trong quản lý an toàn đập còn thấp, nhất là nhóm các hồ vừa và nhỏ do địa phương quản lý.
Việc xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa của các địa phương còn phân tán, thủ công, chưa đồng bộ trên một nền tảng chung. Do vậy, công tác tổng hợp nắm bắt cơ sở dữ liệu, vận hành hồ chứa phục vụ quản lý, chỉ đạo điều hành gặp rất nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đến tính kịp thời trong việc hỗ trợ ra quyết định, nhất là trong thời điểm mưa lũ lớn xảy ra.
Nhìn chung, hệ thống cơ sở dữ liệu an toàn đập, hồ chứa nước thực tế còn nhiều hạn chế về: tính đồng bộ, chuẩn hóa dữ liệu; độ tin cậy của dữ liệu; khả năng dự báo, cảnh báo để hỗ trợ ra quyết định; công tác chuyển đổi số và hạ tầng công nghệ thông tin trong toàn ngành chưa đáp ứng ngay được các yêu cầu quản lý hiện đại. Hệ quả là việc tổng hợp dữ liệu phục vụ quản lý, chỉ đạo điều hành gặp nhiều khó khăn, tốn công sức và thông tin thường bị chậm.
Trong khi các hồ chứa lớn đã áp dụng hệ thống cảnh báo tự động và thông tin đa kênh, thì nhiều hồ vừa và nhỏ vẫn chủ yếu thông báo thủ công qua điện thoại hoặc công văn, gây chậm trễ và thiếu tính cập nhật trong điều kiện mưa lũ diễn biến nhanh.
Mức độ đáp ứng dữ liệu cho ứng dụng công nghệ còn rất hạn chế:
- Chỉ 19% số hồ lắp đặt thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng;
- 11% số hồ cắm mốc phạm vi bảo vệ (ảnh hưởng đến việc xây dựng bản đồ số);
- 9% số hồ được kiểm định an toàn đập (cung cấp dữ liệu hiện trạng công trình);
- 30% số hồ có phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp (cơ sở cho xây dựng kịch bản vận hành);
- Cả nước mới có 411 hồ chứa có bản đồ ngập lụt hạ du (dữ liệu quan trọng cho hệ thống cảnh báo sớm).
Vậy ngành NNMT có giải pháp ra sao để khắc phục hạn chế, phát huy hiệu quả ứng dụng công nghệ số vào quản lý công trình thủy lợi, thưa ông?
Mục tiêu trong ứng dụng công nghệ hỗ trợ quản lý, vận hành đập, hồ chứa thủy lợi là bảo đảm tuyệt đối an toàn đập trong mọi tình huống, cắt giảm lũ hiệu quả cho hạ du để giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, đồng thời tích nước tối đa để phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và các ngành kinh tế khác. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển đổi từ phương thức quản lý truyền thống sang quản lý thông minh dựa trên nền tảng số.

Cống đập Ba Lai là một trong những công trình thủy lợi lớn nhất Đồng bằng Sông Cửu Long. Ảnh: N.Lộc
Về phía Bộ NNMT, cần hoàn thiện hành lang pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật thông qua việc sửa đổi Luật Thủy lợi và Nghị định số 114/2018/NĐ-CP theo hướng rõ ràng trách nhiệm ở cấp Trung ương và địa phương, phù hợp với phân quyền, phân cấp chính quyền địa phương 2 cấp. Trong đó, quản lý an toàn đập cần theo hướng tiếp cận quản lý theo lưu vực sông, xây dựng cơ chế để có thể xã hội hóa, huy động các nguồn lực cùng tham gia...
Bên cạnh đó, cần rà soát, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật như: Tiêu chuẩn, định mức dịch vụ cung cấp thông tin, dữ liệu khí tượng, thủy văn; ban hành tiêu chuẩn xây dựng cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa để thống nhất về cấu trúc, định dạng và quy trình quản lý, đồng bộ dữ liệu, thuận tiện chia sẻ, trao đổi và sử dụng chung dữ liệu.
Về phía các địa phương, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về đập, hồ chứa thủy lợi trên địa bàn và cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu về đập, hồ chứa thủy lợi của Bộ (http://thuyloivietnam.vn). Đối với các tỉnh đã có phần mềm, cần nâng cấp để kết nối được với Bộ/Cục; xây dựng phần mềm quản lý giám sát, hỗ trợ vận hành đối với các hồ chứa lớn trên lưu vực sông, có tính đến an toàn hạ du.
Khôi phục hồ sơ thiết kế, thông số kỹ thuật công trình. Rà soát, cập nhật lại đường đặc tính lòng hồ. Đặc biệt là bổ sung, tích hợp đầy đủ thông tin về lưu vực, hạ du, ưu tiên xây dựng bản đồ số ngập lụt hạ du cho các hồ chứa lớn, hồ có hạ du dân cư đông, đối với những hồ đã có cần thực hiện cập nhật, số hóa.
Đồng thời, cần xây dựng hệ thống giám sát vận hành tự động, lắp đặt thiết bị thông tin, cảnh báo an toàn cho đập và vùng hạ du, tích hợp đa kênh cảnh báo qua SMS, app mobile, loa truyền thanh và mạng xã hội để đảm bảo thông tin đến người dân kịp thời.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Năm 2025 được đánh giá là một trong những năm có diễn biến thời tiết, thiên tai cực đoan, dị thường với hàng loạt kỷ lục bị phá vỡ về số trận bão, lũ. Năm 2026, tình hình thời tiết được dự báo tiếp tục có diễn biến phức tạp với các hiện tượng khí hậu cực đoan như bão mạnh, mưa cường suất lớn... xuất hiện vào nửa cuối năm. Vì thế, công tác phòng ngừa, ứng phó từ sớm là ưu tiên hàng đầu của ngành NNMT.
Cục Khí tượng Thủy văn











