Văn hóa trong mạch phát triển mới của đất nước

Từ bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6.2026, có thể nhìn thấy một yêu cầu rất rõ đối với ngành văn hóa trong sơ kết 6 tháng đầu năm: Văn hóa không đứng ngoài tăng trưởng, không đi sau phát triển, mà phải trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và chiều sâu nhân văn của thời kỳ mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6.2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương. Ảnh: Nhật Bắc

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6.2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương. Ảnh: Nhật Bắc

Nhìn từ 6 tháng đầu năm: Văn hóa là chiều sâu của phát triển

Sáu tháng đầu năm 2026 diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu rất cao về tốc độ tăng trưởng, chất lượng điều hành, năng lực thực thi và sức chống chịu của nền kinh tế. Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ghi nhận những kết quả tích cực về kinh tế - xã hội, đồng thời yêu cầu phải nhìn thẳng vào hạn chế, điểm nghẽn, nhất là chất lượng tăng trưởng, đời sống thực của người dân, việc làm, thu nhập, giáo dục, y tế, môi trường sống và khả năng thụ hưởng thành quả phát triển của nhân dân.

Từ góc nhìn văn hóa, đây là một chỉ dẫn rất quan trọng. Bởi phát triển không chỉ là GDP tăng bao nhiêu, xuất nhập khẩu đạt mức nào, đầu tư công giải ngân đến đâu, mà còn là con người sống như thế nào, cộng đồng gắn kết ra sao, niềm tin xã hội được củng cố đến mức nào, bản sắc dân tộc được gìn giữ và làm mới ra sao trong tiến trình hiện đại hóa. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh, nhưng nếu đời sống văn hóa nghèo nàn, môi trường xã hội thiếu lành mạnh, con người thiếu cơ hội phát triển toàn diện, thì tăng trưởng ấy chưa thể coi là bền vững.

Chính vì vậy, sơ kết 6 tháng đầu năm của ngành Văn hóa không nên chỉ là cộng lại số lượng chương trình nghệ thuật, lễ hội, hoạt động tuyên truyền, cuộc vận động, số di tích được tu bổ hay số lượt khách du lịch. Những con số ấy cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải trả lời được những câu hỏi sâu hơn: Văn hóa đã đóng góp gì vào nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân? Văn hóa đã làm gì để xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, nhân văn? Văn hóa đã giúp gì cho giáo dục con người, phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, quảng bá hình ảnh quốc gia và củng cố niềm tin xã hội?

Trong nửa đầu năm 2026, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục có nhiều chuyển động tích cực. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, lễ hội, bảo tồn và phát huy di sản, thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao, quảng bá du lịch, xúc tiến hình ảnh đất nước đã góp phần làm phong phú đời sống xã hội, lan tỏa niềm tự hào dân tộc, tạo sinh khí mới trong cộng đồng. Du lịch tiếp tục phục hồi và tăng trưởng, cho thấy sức hấp dẫn của văn hóa, thiên nhiên, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Nhưng điều đáng nói hơn là ngành Văn hóa đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi cách tiếp cận. Văn hóa không thể chỉ được nhìn như lĩnh vực tổ chức hoạt động, phục vụ sự kiện hay đáp ứng nhu cầu tinh thần trước mắt.

Văn hóa phải được nhìn như một hệ sinh thái: từ gia đình, nhà trường, cộng đồng, thiết chế văn hóa cơ sở đến không gian số, thị trường sáng tạo, công nghiệp văn hóa, du lịch, truyền thông, giáo dục, công vụ và doanh nghiệp. Khi các yếu tố này kết nối với nhau, văn hóa mới thật sự thấm vào đời sống, trở thành nền nếp, chuẩn mực, động lực và sức mạnh của xã hội.

Một điểm rất đáng chú ý trong tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là yêu cầu phát triển phải đi vào thực chất, số liệu phải là “con số biết nói”, kết quả phải đo được bằng chuyển động trong đời sống.

Với ngành Văn hóa, yêu cầu này càng cần được quán triệt. Chúng ta cần những chỉ báo sâu hơn về mức độ tham gia văn hóa của người dân, khả năng tiếp cận dịch vụ văn hóa cơ bản, chất lượng thiết chế văn hóa cơ sở, sự phát triển của công nghiệp văn hóa, thị trường bản quyền, môi trường văn hóa số, mức độ hài lòng của công chúng và đóng góp của văn hóa vào phát triển địa phương.

Văn hóa là lĩnh vực mềm, nhưng không thể quản trị bằng tư duy mềm lỏng. Văn hóa gắn với cảm xúc, nhưng chính sách văn hóa phải dựa trên dữ liệu, bằng chứng, nguồn lực và trách nhiệm thực thi.

Nếu chúng ta chỉ nói văn hóa là nền tảng mà không đầu tư xứng đáng cho thiết chế văn hóa, nhân lực văn hóa, công nghiệp văn hóa, môi trường văn hóa và quyền tiếp cận văn hóa của người dân, thì văn hóa rất khó trở thành nguồn lực phát triển như mong muốn.

Từ 6 tháng đầu năm, có thể thấy một yêu cầu lớn đặt ra cho ngành Văn hóa: Phải chuyển mạnh từ “làm hoạt động văn hóa” sang “kiến tạo đời sống văn hóa”; từ bảo tồn đơn thuần sang phát huy giá trị; từ phong trào bề rộng sang chất lượng chiều sâu; từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo; từ tư duy bao cấp văn hóa sang huy động nguồn lực xã hội, phát triển thị trường văn hóa lành mạnh, bảo vệ bản quyền và khuyến khích sáng tạo.

Đó cũng là cách để văn hóa không đứng bên lề các mục tiêu phát triển chung của đất nước. Khi văn hóa góp phần nâng cao chất lượng con người, củng cố niềm tin, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, thúc đẩy du lịch, phát triển công nghiệp sáng tạo, quảng bá hình ảnh quốc gia, thì văn hóa đã trực tiếp tham gia vào tăng trưởng, vào hội nhập, vào sức mạnh mềm và vào năng lực cạnh tranh của đất nước.

Sáu tháng cuối năm: đưa văn hóa vào trung tâm của phát triển bền vững

Nếu 6 tháng đầu năm là giai đoạn tạo nền, thì 6 tháng cuối năm 2026 phải là giai đoạn tăng tốc về nhận thức, thể chế và hành động của ngành Văn hóa. Tăng tốc không có nghĩa là tổ chức nhiều sự kiện hơn, mà là làm sâu hơn những việc có ý nghĩa lâu dài; không chỉ tạo không khí, mà phải tạo chuyển biến; không chỉ có phong trào, mà phải có sản phẩm, thiết chế, chính sách, con người và môi trường văn hóa cụ thể.

Trước hết, cần tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, văn minh từ cơ sở. Môi trường văn hóa không chỉ nằm ở nhà văn hóa, sân khấu, thư viện, bảo tàng hay lễ hội. Môi trường văn hóa là những gì người dân tiếp xúc hằng ngày: gia đình, trường học, khu dân cư, cơ quan, doanh nghiệp, không gian mạng, nơi công cộng, hoạt động du lịch, dịch vụ hành chính, truyền thông đại chúng.

Một môi trường văn hóa tốt sẽ làm cho con người ứng xử tử tế hơn, tôn trọng pháp luật hơn, biết chia sẻ hơn, có trách nhiệm hơn với cộng đồng.

Trong bối cảnh phát triển nhanh, chuyển đổi số mạnh mẽ, đô thị hóa sâu rộng, nguy cơ lệch chuẩn văn hóa cũng gia tăng. Đó là ứng xử thiếu chuẩn mực trên mạng, bạo lực học đường, bạo lực gia đình, thương mại hóa phản cảm trong lễ hội, thông tin độc hại, lối sống thực dụng, suy giảm văn hóa đọc, sự đứt gãy trong truyền thụ giá trị giữa các thế hệ.

Vì vậy, ngành Văn hóa cần phối hợp chặt chẽ hơn với giáo dục, truyền thông, gia đình, đoàn thể, địa phương để xây dựng chuẩn mực văn hóa trong từng môi trường cụ thể: Văn hóa học đường, văn hóa gia đình, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa du lịch, văn hóa giao thông, văn hóa số.

Thứ hai, phải coi phát triển con người là trung tâm của mọi chính sách văn hóa. Con người Việt Nam trong thời kỳ mới không chỉ cần tri thức, kỹ năng, sức khỏe, mà còn cần bản lĩnh văn hóa, năng lực thẩm mỹ, đạo đức, lòng nhân ái, ý thức cộng đồng và khả năng sáng tạo.

Đầu tư cho văn hóa, vì thế, chính là đầu tư cho chất lượng con người. Một thư viện tốt, một bảo tàng sống động, một sân chơi an toàn, một chương trình nghệ thuật có giá trị, một không gian công cộng nhân văn, một lễ hội văn minh đều góp phần bồi dưỡng con người.

Thứ ba, cần phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo như một động lực tăng trưởng mới. Việt Nam có vốn văn hóa phong phú, di sản đa dạng, ẩm thực đặc sắc, nghệ thuật truyền thống giàu bản sắc, người trẻ sáng tạo và thị trường nội địa lớn.

Nhưng để biến tiềm năng thành giá trị, cần một hệ sinh thái đầy đủ: bảo vệ bản quyền, phát triển thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo, đào tạo nhân lực, xây dựng không gian sáng tạo, ứng dụng công nghệ số, kết nối văn hóa với du lịch, giáo dục, truyền thông và thương hiệu địa phương.

Công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra doanh thu. Quan trọng hơn, nó giúp văn hóa bước vào đời sống hiện đại bằng hình thức hấp dẫn hơn, gần gũi hơn với công chúng, nhất là giới trẻ. Một bộ phim, một sản phẩm âm nhạc, một thiết kế thời trang, một trò chơi điện tử, một sản phẩm thủ công, một tour du lịch văn hóa, một nội dung số nếu được làm tốt đều có thể mang bản sắc Việt Nam đi xa hơn, tạo việc làm mới và nâng cao vị thế quốc gia.

Thứ tư, cần coi du lịch văn hóa là hướng phát triển chiều sâu. Du lịch không chỉ là ngành kinh tế dịch vụ, mà còn là con đường quảng bá văn hóa, con người và đất nước Việt Nam.

Vì vậy, thay vì chỉ chạy theo số lượng khách, cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng trải nghiệm, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, khả năng quay trở lại, lợi ích của cộng đồng địa phương và sự bền vững của tài nguyên văn hóa.

Mỗi điểm đến phải biết kể câu chuyện của mình; mỗi di sản phải trở thành không gian sống của cộng đồng; mỗi lễ hội phải giữ được vẻ đẹp văn hóa, sự trang nghiêm và tính nhân văn.

Thứ năm, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong văn hóa. Không gian số đang trở thành môi trường văn hóa rất quan trọng, đặc biệt với thế hệ trẻ. Nếu không chủ động, chúng ta sẽ bị động trước các dòng chảy nội dung xuyên biên giới, các sản phẩm độc hại, nguy cơ lệch chuẩn thẩm mỹ và những thách thức về bản quyền.

Nhưng nếu biết tận dụng, không gian số sẽ mở ra cơ hội lớn để số hóa di sản, phát triển bảo tàng số, thư viện số, bản đồ di sản số, quảng bá du lịch, phân phối sản phẩm sáng tạo và đưa văn hóa Việt Nam đến với công chúng toàn cầu.

Thứ sáu, cần hoàn thiện thể chế văn hóa. Đây là điều kiện căn bản để văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Nhiều vấn đề hiện nay không thể giải quyết chỉ bằng tâm huyết hay phong trào, mà cần cơ chế pháp lý rõ ràng: Cơ chế đầu tư cho thiết chế văn hóa, chính sách xã hội hóa văn hóa, đối tác công - tư trong văn hóa, bảo vệ bản quyền, hỗ trợ nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo, chính sách cho công nghiệp văn hóa, phân cấp quản lý di sản, đặt hàng dịch vụ công trong lĩnh vực văn hóa, sử dụng tài sản công cho hoạt động văn hóa cộng đồng.

Tinh thần “rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả” cần được vận dụng mạnh mẽ trong quản lý văn hóa. Mỗi nhiệm vụ văn hóa phải có mục tiêu rõ, nguồn lực rõ, cơ quan chịu trách nhiệm rõ và kết quả có thể kiểm chứng. Văn hóa không thể chỉ được đánh giá bằng cảm nhận chung, mà cần được lượng hóa bằng những chỉ báo phù hợp, đồng thời vẫn giữ được chiều sâu nhân văn, sự tinh tế và đặc thù của lĩnh vực này.

Nhìn từ bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy yêu cầu lớn nhất đối với ngành văn hóa trong 6 tháng cuối năm là phải góp phần trực tiếp vào mục tiêu phát triển toàn diện của đất nước. Văn hóa phải làm cho tăng trưởng có chiều sâu, cho hiện đại hóa có bản sắc, cho hội nhập có bản lĩnh, cho chuyển đổi số có nhân văn, cho đời sống xã hội có niềm tin và cho con người Việt Nam có khát vọng vươn lên.

Sơ kết 6 tháng đầu năm không chỉ để thấy những gì đã làm được, mà còn để nhận diện rõ hơn trách nhiệm phía trước. Ngành văn hóa cần bước vào 6 tháng cuối năm với tinh thần chủ động hơn, sáng tạo hơn, quyết liệt hơn; không chỉ hoàn thành kế hoạch công tác, mà còn góp phần định hình một cách hiểu mới về phát triển: phát triển phải có văn hóa, phải vì con người, phải dựa trên bản sắc và phải làm cho Nhân dân được sống tốt hơn cả về vật chất lẫn tinh thần.

Có thể nói, trong mạch phát triển mới của đất nước, văn hóa chính là chiều sâu làm nên sức bền. Kinh tế tạo ra của cải, thể chế mở đường cho hành động, khoa học công nghệ tạo động lực mới, nhưng văn hóa tạo ra con người, niềm tin, bản sắc và khát vọng. Khi văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia, chúng ta sẽ có thêm cơ sở vững chắc để bước vào thời kỳ phát triển mới với tâm thế tự tin, nhân văn và giàu bản lĩnh Việt Nam.

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/van-hoa-trong-mach-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc-243268.html