Văn hóa truyền thống không chỉ là đạo cụ sân khấu

Trong những năm qua, xu hướng dùng chất liệu truyền thống trong những sáng tạo đương đại đang trở nên phổ biến. Những vở ballet “Dó”, “Đông Hồ”, xiếc “Làng tôi” hay mới đây là “Những lớp phù sa” đang cho thấy nỗ lực của các nghệ sĩ tìm về những chất liệu văn hóa truyền thống để kể những câu chuyện hôm nay. Nhưng giữa việc “đưa văn hóa lên sân khấu” và sự “sáng tạo từ văn hóa” vẫn là một khoảng cách. Bởi nếu truyền thống chỉ dừng lại ở những chiếc nón, cái nơm, tấm chiếu, câu hát dân gian hay bộ trang phục đẹp mắt, văn hóa rất dễ trở thành một thứ đạo cụ trang trí.

Những dòng chảy sáng tạo

Một giọt nước rời khỏi mây, theo dòng sông Hồng đi qua đất, làng, chợ, con người và những ký ức cộng đồng. Đó là hành trình của “Những lớp phù sa”, mở ra một câu chuyện về văn hóa Bắc Bộ bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại. Tác phẩm do NSƯT Cao Ngọc Ánh và NSND Trần Ly Ly cùng ê-kíp sáng tạo thực hiện, sử dụng hình tượng phù sa như một ẩn dụ về quá trình văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Điều đáng chú ý là những hình ảnh quen thuộc như làng quê Bắc Bộ với cây đa, bến nước, con đò, phiên chợ hay những làng nghề truyền thống không chỉ xuất hiện để minh họa cho vẻ đẹp của làng quê mà đó là những “lớp trầm tích” của đời sống, chuyển hóa thành chất liệu cho một ngôn ngữ nghệ thuật mới. Trong “Những lớp phù sa”, đằng sau các làng nghề như gốm, lụa, mây tre đan, sơn mài… là một vùng đất, một cộng đồng và những câu chuyện di sản được trao truyền. Từ đó, nghệ thuật tìm đến văn hóa không phải để “trưng bày”, trình diễn mà để đối thoại với nó. NSND Trần Ly Ly chia sẻ về cách chị tiếp cận văn hóa dân gian trong “Những lớp phù sa” rằng, đó là “một ẩn dụ về dòng chảy văn hóa không ngừng được trao truyền, đắp bồi qua thời gian. Hình ảnh “giọt nước” được lựa chọn làm điểm khởi đầu bởi nước là khởi nguồn của sự sống; từ giọt nước ấy hình thành đất, phù sa và cuối cùng là không gian văn hóa của con người.”

Dự án nghệ thuật đương đại “Những lớp phù sa” mở ra một câu chuyện về văn hóa Bắc Bộ. Ảnh: Ban Tổ chức

Nếu “Những lớp phù sa” tìm về dòng chảy văn hóa Bắc Bộ bằng múa và sân khấu đa phương tiện thì “Dó”, “Đông Hồ” lại đặt câu hỏi thú vị ở một loại hình vốn được xem là rất xa với đời sống nghệ thuật truyền thống Việt Nam: ballet. Những nơm cá, quạt giấy, chiếu hoa, giấy dó, chú Tễu, những động tác quăng chài, đặt nơm, gánh nước, cấy lúa… bước vào “Dó”. Nhưng giá trị của tác phẩm không nằm ở việc những vật dụng ấy xuất hiện trên sân khấu như những đạo cụ mà ê-kíp sáng tạo đã tìm cách chuyển hóa chúng thành ngôn ngữ chuyển động. Các động tác xoắn, cuộn, trượt được sử dụng để tạo cảm giác gắn với mặt đất; những nhịp điệu lao động của cư dân nông nghiệp trở thành chất liệu cho cơ thể ballet. Tác phẩm cũng vận hành theo cấu trúc tuần hoàn của bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông, mang hơi thở của nền văn minh lúa nước. Và căn tính Việt không còn nằm ở chiếc nơm hay tấm chiếu xuất hiện trên sân khấu. Nó nằm trong từng động tác cơ thể chuyển động, cách tổ chức không gian, câu chuyện được kể và điều quan trọng, là nó được đặt trong mối quan hệ với tự nhiên, cộng đồng. Đó là tư duy, thẩm mỹ Á Đông. Biên đạo múa Vũ Ngọc Khải cho biết, các nghệ sĩ chọn chiếc nơm là hình tượng chính bởi nó mang vẻ đẹp của sự gần gũi, tinh tế, đậm hồn Việt hoàn toàn có thể đối thoại với nghệ thuật ballet và âm nhạc cổ điển phương Tây.

Sự trở lại của “Làng tôi” cũng cho thấy một hướng đi tương tự của nghệ thuật xiếc. Xiếc vốn thường được khán giả nhớ đến trước hết bởi những kỹ thuật hình thể, sự khéo léo, sức mạnh và khả năng tạo cảm giác hồi hộp. Nhưng khi bước vào “Làng tôi”, xiếc không chỉ còn là những tiết mục nối tiếp nhau. Không gian làng quê, đời sống người nông dân, những sinh hoạt quen thuộc… trở thành nền tảng để nghệ sĩ kể một câu chuyện bằng cơ thể. Và khi xiếc tìm thấy câu chuyện, những động tác vốn có thể chỉ tạo ra sự ngạc nhiên về kỹ thuật lại có thêm một tầng ý nghĩa. Một mái nhà, một cây tre, một sinh hoạt lao động hay một trò chơi dân gian không còn đơn thuần là bối cảnh. Chúng tạo nên ký ức và cảm xúc, giúp người xem nhận ra một phần đời sống của chính mình. Khi “Làng tôi” hồi hương sau nhiều năm lưu diễn quốc tế, Nguyễn Nhất Lý từng chia sẻ rằng, để giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam có chỗ đứng trong lòng khán giả, đôi khi phải “đi đường vòng”, tức là đưa tác phẩm ra thế giới, gây ấn tượng với công chúng quốc tế rồi từ đó tạo sự tò mò trở lại ở khán giả trong nước.

Có thể thấy, dù thuộc những loại hình khác nhau, “Những lớp phù sa”, “Dó” và “Làng tôi” cùng gặp nhau ở một điểm: truyền thống không được đưa vào tác phẩm không phải là những vật liệu trang trí. Đó là những câu chuyện mang đậm hồn cốt Việt, được kể, được đối thoại một cách có chiều sâu.

Vở ballet “Đông Hồ” lấy chất liệu tranh dân gian Đông Hồ

Khi hồn Việt không nằm ở chiếc nón lá

Ngày nay, những chất liệu như áo dài, nón lá, tre, nơm, chiếu, hoa sen, họa tiết dân gian; những câu dân ca, tiếng sáo, tiếng trống được sử dụng khá nhiều, nếu không nói là đôi khi bị lạm dụng nhân danh truyền thống. Nhưng những dấu hiệu nhận diện ấy mới chỉ là bề mặt của văn hóa. Một tác phẩm có thể chứa rất nhiều biểu tượng Việt Nam nhưng vẫn chưa chắc có hồn Việt. Ngược lại, một tác phẩm có thể không cần quá nhiều vật thể quen thuộc mà vẫn khiến người xem nhận ra một cách cảm nhận rất Việt về thiên nhiên, cộng đồng, gia đình, quê hương và con người. Bởi văn hóa không chỉ nằm trong cái chúng ta nhìn thấy, mà còn nằm trong cách chúng ta nhìn. Đây là thách thức lớn đối với những nghệ sĩ trẻ hôm nay. Họ đang đứng trước một kho tàng chất liệu vô cùng phong phú, nhưng đồng thời cũng đứng trước thách thức, làm sao để kết nối được với di sản để kể câu chuyện hôm nay. Chiếc nón lá chỉ là chiếc nón lá, nó là đạo cụ. Câu hát dân gian chỉ được đưa vào để tạo màu sắc, nó chỉ là minh họa. Khi làng nghề chỉ xuất hiện như một phông nền đẹp, nó chưa thực sự bước vào tác phẩm. Nhưng khi những chất liệu ấy làm thay đổi cách nghệ sĩ tư duy về không gian, nhịp điệu, cơ thể, âm thanh, cấu trúc câu chuyện và mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, lúc đó văn hóa mới thực sự trở thành nguồn năng lượng sáng tạo.

Vở ballet “Dó” thành công khi kể câu chuyện văn hóa Việt bằng ngôn ngữ ballet

Có một nghịch lý trong câu chuyện bảo tồn văn hóa là càng muốn giữ nguyên một giá trị truyền thống, đôi khi chúng ta càng dễ khiến nó trở nên xa lạ với đời sống hiện tại. Một di sản chỉ được đặt trong tủ kính thì có thể được bảo vệ về mặt vật chất, nhưng sẽ không còn sống trong tâm thức cộng đồng. Nghệ thuật có một khả năng đặc biệt: đưa những giá trị tưởng như chỉ còn trong ký ức trở lại cuộc sống bằng một hình thức mới. “Dó” là một ví dụ. Ballet là loại hình nghệ thuật có nguồn gốc phương Tây, nhưng qua quá trình đối thoại với chất liệu Việt, tác phẩm đặt ra câu hỏi về khả năng hình thành một ngôn ngữ ballet mang dấu ấn Việt Nam. Âm nhạc cổ điển châu Âu được đặt cạnh những hình tượng và chuyển động gắn với đời sống nông nghiệp Việt Nam. “Những lớp phù sa” cũng không phục dựng một Bắc Bộ đã đóng khung trong ký ức. Tác phẩm nhìn vào làng quê, làng nghề, tín ngưỡng, âm nhạc dân gian và đời sống cộng đồng bằng một hệ ngôn ngữ sân khấu mới. Đó là cách để truyền thống tiếp tục “sống” trong đời sống hiện nay. Và có lẽ, đó mới là một hình thức bảo tồn có sức sống. Ngày nay, các loại hình nghệ thuật ngày càng đa dạng. Ballet, jazz, hip-hop, nghệ thuật trình diễn, công nghệ số… đều có thể trở thành những ngôn ngữ để nghệ sĩ Việt Nam kể câu chuyện của mình. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể kể câu chuyện đương đại mà vẫn mang hồn cốt, văn hoá Việt? Theo đạo diễn, biên đạo múa Tuấn Lê: “Muốn truyền thống sống được trong nghệ thuật đương đại, đôi khi phải để truyền thống bước vào một cuộc đối thoại bình đẳng với những ngôn ngữ nghệ thuật mới”. Còn nghệ sĩ Nguyễn Quốc Hoàng Anh chia sẻ: “Văn hóa dân tộc không nên chỉ là chất liệu trang trí, mà cần được nghiên cứu sâu, tái hiện có chiều sâu và bối cảnh. Nghệ thuật truyền thống luôn tiếp biến và luôn vận động và không nên đóng khung nó như một di sản tĩnh. Khi được đặt trong sự tiếp biến sáng tạo, với hiểu biết sâu sắc và sự tôn trọng, di sản sẽ có sức sống mới - không phải bằng cách sao chép, mà là bằng cách được tái sinh qua tư duy nghệ thuật đương đại”.

Việt Linh

Nguồn ANTG: https://cand.vn/van-hoa-truyen-thong-khong-chi-la-dao-cu-san-khau-post822137.html