VASEP: Gỡ chồng chéo kiểm tra nhập khẩu, giảm chi phí cho chuỗi thủy sản
Theo VASEP, gỡ chồng chéo hồ sơ kiểm tra nhập khẩu, sử dụng kết quả kiểm dịch để thông quan có thể giúp doanh nghiệp thủy sản giảm thời gian, chi phí và nâng hiệu quả chuỗi cung ứng.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cơ quan quản lý đang đề xuất sử dụng kết quả kiểm dịch đối với sản phẩm động vật, thủy sản nhập khẩu làm căn cứ phục vụ thông quan. Động thái này được kỳ vọng tháo gỡ tình trạng doanh nghiệp phải xuất trình nhiều loại giấy tờ cho cùng một lô hàng.
Ngày 9/9/2026, Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có Công văn số 3486/CNTY-KD&TYCĐ gửi Cục Hải quan về việc kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu có nguồn gốc động vật trên cạn và thủy sản.

Ảnh minh họa
Theo thông tin VASEP dẫn từ văn bản của cơ quan quản lý, đề xuất đáng chú ý là sử dụng Giấy chứng nhận kiểm dịch nhập khẩu làm căn cứ phục vụ thủ tục thông quan đối với những lô hàng sản phẩm động vật, thủy sản nhập khẩu làm thực phẩm đã được kiểm dịch theo quy định.
Động thái này nhằm xử lý tình trạng chồng chéo hồ sơ trong quá trình nhập khẩu, khi doanh nghiệp có thể phải đồng thời cung cấp Giấy chứng nhận kiểm dịch nhập khẩu và Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu cho cùng một lô hàng.
Có thể dùng giấy chứng nhận kiểm dịch để thông quan
Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, những vướng mắc trên được ghi nhận từ phản ánh của các doanh nghiệp nhập khẩu trong quá trình thực hiện quy định về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm có nguồn gốc động vật và thủy sản.
Để hạn chế tình trạng hàng hóa bị ách tắc tại cửa khẩu, cơ quan chuyên ngành đề xuất phối hợp với Hải quan theo hướng cho phép doanh nghiệp sử dụng giấy chứng nhận kiểm dịch để thực hiện thủ tục thông quan, với điều kiện giấy chứng nhận thể hiện rõ mục đích sử dụng của lô hàng.
Đối với sản phẩm động vật trên cạn, giấy tờ được sử dụng là Giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật nhập khẩu (mẫu 15b). Trong khi đó, với sản phẩm động vật thủy sản, doanh nghiệp sử dụng Giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật thủy sản nhập khẩu (mẫu 10TS) theo quy định chuyên ngành.
Ngay sau đó, ngày 10/9/2026, Cục Hải quan ban hành Công văn số 21545/CHQ-GSQL, yêu cầu các Chi cục Hải quan khu vực căn cứ hướng dẫn của Cục Chăn nuôi và Thú y cùng các văn bản liên quan để nghiên cứu, thực hiện khi làm thủ tục hải quan đối với từng nhóm thực phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn và động vật thủy sản nhập khẩu.
Theo VASEP, việc thống nhất cách xử lý hồ sơ có ý nghĩa đáng kể đối với doanh nghiệp thủy sản, nhất là trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp đang phải nhập khẩu nguyên liệu như cá, tôm, mực, bạch tuộc và các sản phẩm thủy sản đông lạnh phục vụ chế biến.
Doanh nghiệp có hệ thống quản lý tốt được giảm kiểm tra
Bên cạnh việc tháo gỡ yêu cầu hồ sơ chồng chéo, cơ quan quản lý cũng đề cập đến việc áp dụng phương thức kiểm tra giảm đối với các sản phẩm nhập khẩu đáp ứng điều kiện về quản lý an toàn thực phẩm.
Theo hướng dẫn được nêu trong văn bản, sản phẩm động vật, thủy sản nhập khẩu có thể được xem xét áp dụng kiểm tra giảm nếu được sản xuất tại các cơ sở áp dụng những hệ thống quản lý chất lượng như GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc hệ thống tương đương, đồng thời đáp ứng các yêu cầu theo quy định.
Với phương thức này, thay vì kiểm tra ở mức độ rộng, cơ quan quản lý có thể tập trung nguồn lực vào các nhóm hàng, cơ sở hoặc lô hàng có nguy cơ cao hơn.
Đối với doanh nghiệp, kiểm tra giảm có thể giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, hạn chế chi phí lưu kho, lưu bãi, đặc biệt là chi phí bảo quản lạnh đối với các lô hàng thủy sản.
Tuy nhiên, để triển khai thống nhất, cơ quan quản lý cho rằng cần xây dựng và cung cấp danh sách các cơ sở sản xuất, tổ chức, cá nhân nhập khẩu đủ điều kiện áp dụng kiểm tra giảm. Đồng thời, tiêu chí xác định cơ sở áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm cũng cần được hướng dẫn cụ thể.
Vướng mắc về tự công bố sản phẩm vẫn chưa được giải quyết triệt để
Theo VASEP, bên cạnh những điểm được tháo gỡ, quy định liên quan đến hồ sơ tự công bố sản phẩm vẫn còn tồn tại điểm chưa thống nhất.
Cụ thể, hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu có yêu cầu bản tự công bố sản phẩm. Trong khi đó, một quy định khác lại xác định một số sản phẩm động vật trên cạn và thủy sản đông lạnh chưa qua chế biến, chưa bao gói sẵn không thuộc nhóm phải tự công bố sản phẩm.
Theo cơ quan chuyên ngành, sự khác biệt giữa các quy định có thể dẫn tới cách hiểu và áp dụng không thống nhất, từ đó phát sinh thêm thủ tục đối với doanh nghiệp nhập khẩu.
Cục Chăn nuôi và Thú y đã đề nghị cơ quan Hải quan xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực hiện.
Giảm chi phí cho chuỗi cung ứng thủy sản
Đối với ngành thủy sản, việc tháo gỡ các thủ tục chồng chéo tại khâu nhập khẩu có ý nghĩa trực tiếp đối với chi phí và tiến độ sản xuất.
Nhiều doanh nghiệp chế biến xuất khẩu hiện phụ thuộc một phần vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Khi hàng hóa phải chờ kiểm tra hoặc bổ sung hồ sơ tại cửa khẩu, doanh nghiệp không chỉ chịu chi phí logistics mà còn phát sinh chi phí lưu kho lạnh và nguy cơ ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, giao hàng.
Theo hướng này, việc sử dụng kết quả kiểm dịch làm căn cứ phục vụ thông quan và mở rộng phương thức kiểm tra giảm đối với các cơ sở có hệ thống quản lý an toàn thực phẩm phù hợp có thể góp phần chuyển từ cách tiếp cận kiểm tra dàn trải sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro.
Tuy nhiên, để những thay đổi này thực sự phát huy hiệu quả, vấn đề quan trọng tiếp theo là sự thống nhất trong quá trình thực thi. Doanh nghiệp cần được làm rõ đối tượng thuộc diện kiểm tra, thành phần hồ sơ phải nộp, điều kiện áp dụng kiểm tra giảm cũng như cơ chế phối hợp giữa cơ quan chuyên ngành và cơ quan Hải quan.
Nếu các quy định được hướng dẫn đồng bộ, việc cắt giảm hồ sơ trùng lặp không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thời gian và chi phí nhập khẩu mà còn góp phần tăng tính minh bạch, dự báo được của quy trình kiểm tra đối với chuỗi cung ứng thủy sản.

