Vay 1 tỷ kinh doanh vải may mặc, người vay chỉ trả được hơn 68 triệu đồng tiền lãi

Vay 1 tỷ để kinh doanh vải may mặc nhưng chỉ trả được hơn 68 triệu đồng tiền lãi, sau hơn 11 năm, người vay phải thanh toán gần 3 tỷ đồng, trong đó tiền lãi quá hạn hơn 1,9 tỷ.

Vay 1 tỷ đồng rồi không trả được nợ gốc

Ngày 12/9/2012, Ngân hàng V. và bà Vũ Tuyết N. ở tỉnh Vĩnh Phúc (nay là tỉnh Phú Thọ) ký hợp đồng cho vay hạn mức với mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh vải may mặc. Hạn mức cho vay là 1 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng.

Sau đó, Ngân hàng V. giải ngân cho bà N. thành 2 khoản. Theo khế ước nhận nợ ngày 3/5/2013, bà N. nhận 400 triệu đồng, thời hạn vay 9 tháng, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 13,4%/năm. Ba ngày sau, bà tiếp tục nhận 600 triệu đồng, với thời hạn và mức lãi suất tương tự.

Tuy nhiên, mức lãi suất này sẽ chỉ cố định trong 3 tháng đầu và điều chỉnh theo định kỳ 1 tháng/lần, mức lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất kỳ hạn 12 tháng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ tối thiểu 5,3%/năm.

Để bảo đảm khoản vay, bà N. ký các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất đứng tên hộ ông Lại Đăng T., là chồng bà đã mất. Tài sản này gồm thửa đất có diện tích theo giấy chứng nhận là 100m2 và ngôi nhà trên đất.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà N. đã trả được hơn 68 triệu đồng tiền lãi nhưng không trả được khoản nợ gốc nào. Từ ngày 25/11/2013, bà vi phạm nghĩa vụ trả nợ và toàn bộ khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn. 

Ngày 11/4/2019, Ngân hàng V. khởi kiện, yêu cầu bà N. thanh toán tiền gốc và tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng. Ngân hàng cũng đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm nếu bà N. không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Vay 1 tỷ để kinh doanh vải may mặc, 11 năm sau, người vay phải thanh toán gần 3 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Vay 1 tỷ để kinh doanh vải may mặc, 11 năm sau, người vay phải thanh toán gần 3 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Bà N. thừa nhận đã được ngân hàng giải ngân 1 tỷ đồng và có trả lãi trong một thời gian. Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ, bà không còn khả năng thanh toán tiền gốc và tiền lãi. Do đó, bà đề nghị ngân hàng cho trả dần tiền gốc, mỗi tháng 5 triệu đồng; xin miễn toàn bộ tiền lãi và không đồng ý để xử lý căn nhà, thửa đất của gia đình dùng làm tài sản thế chấp.

Đến ngày 19/9/2024, sau hơn 11 năm kể từ thời điểm nhận các khoản tiền vay, Ngân hàng V. xác định bà N. còn nợ tổng cộng gần 3 tỷ đồng. Trong đó, nợ gốc là 1 tỷ đồng, lãi trong hạn hơn 12,4 triệu đồng và lãi quá hạn hơn 1,9 tỷ đồng.

Tại bản án sơ thẩm, TAND TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là TAND khu vực 9 - Phú Thọ) buộc bà N. phải thanh toán toàn bộ khoản tiền gần 3 tỷ đồng cho ngân hàng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà N. phải chịu tiền lãi trên số tiền phải thi hành theo lãi suất là 10%/năm cho đến khi thanh toán xong.

Tòa cũng tuyên các hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần đối với phần tài sản liên quan đến anh Lại Đăng C., là con của bà N. Bởi tại thời điểm ký hợp đồng, anh C. đang cai nghiện bắt buộc nhưng trong hợp đồng lại có chữ ký của anh; kết quả giám định sau đó xác định chữ ký này là giả mạo. Trong khi đó, hai người con còn lại không tranh chấp về chữ ký của mình và việc ký hợp đồng được xác định là tự nguyện. Vì vậy, phần thế chấp tài sản của bà N. và 2 con là anh H. và chị G. vẫn có hiệu lực để bảo đảm khoản vay.

Tòa sơ thẩm xác định nếu bà N. không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định.

Phải trả nợ gần 3 tỷ đồng, lãi tiếp tục tính 15,75%/năm

Sau bản án sơ thẩm, cả ngân hàng và bà N. đều kháng cáo. Ngân hàng V. đề nghị tòa phúc thẩm sửa phần tính lãi sau ngày xét xử sơ thẩm, áp dụng lãi suất quá hạn theo thỏa thuận là 15,75%/năm trên số nợ gốc chưa trả. Trong khi đó, bà N. đề nghị tuyên toàn bộ các hợp đồng thế chấp ký ngày 17/3/2011 và 23/9/2011 vô hiệu.

Xét kháng cáo, tòa phúc thẩm xác định các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ giữa Ngân hàng V. và bà N. được ký kết tự nguyện, đúng thẩm quyền, hình thức và nội dung không vi phạm quy định pháp luật. Vì vậy, việc buộc bà N. thanh toán khoản nợ gần 3 tỷ đồng là có căn cứ.

Đối với tiền lãi sau ngày xét xử sơ thẩm, tòa cho rằng cấp sơ thẩm áp dụng mức 10%/năm là không phù hợp với thỏa thuận giữa các bên. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi suất quá hạn mà ngân hàng đang áp dụng là 15,75%/năm và bà N. cũng đồng ý với mức lãi suất này.

Do đó, tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng V., sửa bản án sơ thẩm theo hướng kể từ ngày 20/9/2024, bà N. tiếp tục phải chịu lãi trên số tiền còn phải thi hành án là hơn 2,95 tỷ đồng với mức lãi suất 15,75%/năm cho đến khi thanh toán xong.

Về các hợp đồng thế chấp, tòa phúc thẩm xác định thửa đất và ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng bà N. và ông T. Sau khi ông T. qua đời, phần tài sản của ông trở thành di sản thừa kế chưa chia. Vì vậy, khi thế chấp tài sản, ngoài bà N. còn cần có sự tham gia của những người thừa kế liên quan là 3 người con.

Hồ sơ thể hiện các hợp đồng thế chấp có chữ ký của 4 người. Tuy nhiên, căn cứ lời khai, tài liệu xác minh và các kết luận giám định, tòa xác định chữ ký của anh C. trong hợp đồng thế chấp là giả mạo. Tại thời điểm ký các hợp đồng, anh C. đang thực hiện cai nghiện bắt buộc.

Tòa cho rằng bà N. và 2 người con là anh H. và chị G. không có ý kiến về chữ ký của mình và việc ký hợp đồng thể hiện ý chí tự nguyện định đoạt phần tài sản của họ. Vì thế, không có căn cứ để tuyên toàn bộ các hợp đồng thế chấp vô hiệu như yêu cầu kháng cáo của bà N.

Tòa phúc thẩm giữ nguyên quan điểm hợp đồng thế chấp chỉ vô hiệu một phần, đối với phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền của anh C. Phần tài sản có hiệu lực thế chấp của bà N., anh H. và chị G. vẫn có thể được xử lý để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.

Tuy nhiên, tòa phúc thẩm cho rằng cấp sơ thẩm chưa có căn cứ để tự xác định phần tài sản của anh C. là 1/8 giá trị khối tài sản. Việc phân chia tài sản chung và di sản thừa kế chưa được các đương sự yêu cầu giải quyết trong vụ án.

Theo quyết định phúc thẩm, nếu bà N. không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng V. có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý phần giá trị tài sản có hiệu lực thế chấp của bà N., anh H. và chị G. Nếu các bên không thỏa thuận được về phần tài sản của từng người, họ có quyền khởi kiện để yêu cầu chia tài sản chung, chia di sản thừa kế theo quy định.

Không chấp nhận kháng cáo của bà N., tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng V. và sửa một phần bản án sơ thẩm. Theo đó, bà N. phải trả gần 3 tỷ đồng tính đến ngày 19/9/2024 và tiếp tục chịu lãi suất 15,75%/năm trên số tiền còn phải thi hành án từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thanh toán xong.

(Bài viết dựa trên Bản án số 06/2026/KDTM-PT ngày 24/6/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ).

Nguyễn Lê

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/vay-1-ty-kinh-doanh-vai-may-mac-nguoi-vay-chi-tra-duoc-hon-68-trieu-tien-lai-2549991.html