VCCI đề nghị làm rõ việc hoàn trả khoản ngân sách tạm ứng cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu

VCCI đề nghị làm rõ cơ chế trích lập để hoàn trả khoản ngân sách nhà nước đã tạm ứng cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu.

 VCCI đề nghị làm rõ các quy định để hoàn trả khoản ngân sách nhà nước đã tạm ứng cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu. Ảnh: Hải Nguyễn

VCCI đề nghị làm rõ các quy định để hoàn trả khoản ngân sách nhà nước đã tạm ứng cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu. Ảnh: Hải Nguyễn

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ghi nhận Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu đã xác định thời điểm chấm dứt trích lập, chi sử dụng Quỹ, trừ trường hợp tiếp tục trích lập để hoàn trả nguồn tạm ứng ngân sách. Tuy nhiên, theo VCCI để bảo đảm yêu cầu “công khai, minh bạch, không phát sinh khoảng trống pháp lý”, một số nội dung cần được hoàn thiện.

Theo VCCI, mốc chấm dứt cố định ngày 1.1.2027 có thể không trùng với ngày Nghị định có hiệu lực, trong khi thời điểm chốt số dư và phạm vi kiểm toán được xác định đến hết ngày liền kề trước ngày Nghị định có hiệu lực. Nếu các mốc này khác nhau, cần quy định rõ việc trích lập, chi sử dụng, quản lý và đối chiếu số dư trong giai đoạn chuyển tiếp.

Khoản 5 Điều 33 cho phép tiếp tục trích lập để hoàn trả khoản tạm ứng theo Nghị quyết số 69/NQ-CP, nhưng công thức giá tại Điều 28 chưa thể hiện cách xử lý khoản trích này. VCCI cho rằng dự thảo chưa làm rõ mức trích tối đa, thời hạn tối đa và cơ chế công khai số dư. Vì vậy, cần quy định rõ chủ thể chịu nghĩa vụ, cơ sở tính, cách hạch toán và phản ánh khoản trích vào giá bán, tránh thu trùng hoặc áp dụng không thống nhất giữa các thương nhân.

Đối với số dư dương, nguyên tắc tại điểm c khoản 4 Điều 33 lựa chọn số liệu kiểm toán khi cao hơn số đã báo cáo, nhưng vẫn giữ số đã báo cáo khi kết quả kiểm toán thấp hơn. Theo VCCI, cách xử lý này không cho phép điều chỉnh giảm nghĩa vụ theo kết quả kiểm toán, làm giảm ý nghĩa của kiểm toán độc lập do doanh nghiệp chi trả và chưa làm rõ quan hệ với quy định hoàn trả khi thương nhân “đã nộp dư”.

Đối với số dư âm, cách diễn đạt “nhiều hơn”, “ít hơn” chưa xác định rõ là so sánh giá trị đại số của số dư hay quy mô khoản tiền được hoàn trả, có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau. Trong khi đó, điểm d khoản 4 đã cho phép xử lý các sai phạm được cơ quan có thẩm quyền phát hiện sau khi thực hiện quy định chuyển tiếp.

Bên cạnh đó, VCCI cho rằng, dự thảo chưa quy định thời hạn hoàn trả số dư âm, tức phần vốn doanh nghiệp đã ứng để thực hiện bình ổn giá theo điều hành của Nhà nước, cũng chưa quy định rõ thời hạn chuyển nộp số dư dương.

Phạm vi kiểm toán “kể từ khi phát sinh” cần được làm rõ đối với những nội dung, số liệu đã được cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước kiểm tra và kết luận, tránh yêu cầu thực hiện lại nhưng vẫn bảo đảm kiểm toán đầy đủ phần chưa được xác nhận.

VCCI đề nghị xem xét chế tài với doanh nghiệp chậm quyết toán

Đáng lưu ý, khoản 7 quy định đình chỉ kinh doanh tạm thời khi chậm quyết toán quá 60 ngày và thu hồi Giấy xác nhận khi quá 90 ngày. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục cần được rà soát theo Luật Xử lý vi phạm hành chính và pháp luật chuyên ngành.

Dự thảo chưa xác định rõ nghĩa vụ quyết toán cụ thể của thương nhân, thời hạn phải hoàn thành và mốc bắt đầu tính chậm quyết toán; chưa làm rõ quan hệ với thời hạn kiểm toán 12 tháng tại khoản 4 và phương án quyết toán do Bộ Công Thương xây dựng tại khoản 6. Quy định phong tỏa tài khoản cũng cần làm rõ thời điểm, phạm vi và cơ chế chuyển nộp tiền trong thời gian phong tỏa.

Việc xử lý chậm quyết toán cần phân biệt trách nhiệm của thương nhân với trường hợp chậm do chờ ý kiến hoặc xử lý của cơ quan nhà nước, cũng như các nguyên nhân khách quan có căn cứ chứng minh. Hơn nữa, đình chỉ hoạt động của một thương nhân đầu mối tác động trực tiếp đến nguồn cung của toàn bộ hệ thống phân phối phụ thuộc, có thể gây ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi doanh nghiệp vi phạm.

Với những nội dung trên, VCCI có 5 kiến nghị:

Thứ nhất, gắn thời điểm chấm dứt trích lập, chi sử dụng Quỹ với ngày Nghị định có hiệu lực hoặc bổ sung quy định bảo đảm căn cứ pháp lý và cơ chế đối chiếu số dư trong giai đoạn chuyển tiếp;

Thứ hai, đối với khoản trích lập để hoàn trả tạm ứng, quy định rõ chủ thể chịu nghĩa vụ, cơ sở tính, cách hạch toán và phản ánh vào giá bán, mức trích tối đa, thời hạn tối đa và nghĩa vụ công khai định kỳ số dư;

Thứ ba, sử dụng kết quả kiểm toán độc lập để đối chiếu, xác định nghĩa vụ theo cả hai chiều, quy định rõ giá trị khoản phải nộp, khoản được hoàn trả thay cho cách diễn đạt “nhiều hơn”, “ít hơn” đối với số dư âm; trường hợp có kết luận của cơ quan có thẩm quyền thì xử lý theo điểm d khoản 4 Điều 33;

Thứ tư, cho phép kế thừa số liệu, nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, kết luận và xác nhận đầy đủ, kiểm toán bổ sung phần chưa được xác nhận, trừ trường hợp có dấu hiệu sai lệch hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; quy định thời hạn chuyển nộp số dư dương, thời hạn hoàn trả số dư âm và quy trình đối chiếu, quyết toán thống nhất;

Thứ năm, thay chế tài đình chỉ kinh doanh, thu hồi Giấy xác nhận tại khoản 7 bằng việc dẫn chiếu pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp tài chính phù hợp như tính lãi chậm nộp, cưỡng chế thu hồi theo căn cứ, thẩm quyền và thủ tục do pháp luật quy định; đồng thời xác định rõ mốc tính thời hạn, trách nhiệm của từng chủ thể và loại trừ trường hợp chậm vì lý do khách quan không thuộc trách nhiệm của thương nhân.

Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/vcci-de-nghi-lam-ro-viec-hoan-tra-khoan-ngan-sach-tam-ung-cho-quy-binh-on-gia-xang-dau-post912103.html