Về Phù Ủng nghe chuyện kể về danh tướng Phạm Ngũ Lão và những di tích

Được gọi theo tên của ngôi làng có từ lâu đời, đền Phù Ủng là một quần thể kiến trúc đồ sộ gồm phần chính là đền thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão và nhiều công trình hợp thành. Di tích có địa thế phân bố rải rác, xen kẽ với khu dân cư và chạy dài theo trục đường trong thôn, xóm.

Từ người đan sọt, được tiến cử về kinh đô

Theo các nguồn tài liệu và thông tin từ Ban Quản lý di tích tỉnh Hưng Yên, đền Phù Ủng (còn gọi là Phù Ủng trạch từ), theo nghĩa Hán việt “Phù” là giúp; “Ủng” là ủng hộ, giúp đỡ. “Phù Ủng” nghĩa là: Giúp nước hộ dân. Cụm di tích tọa lạc trên khu đất hình đầu rồng, với thế đất tốt.

Ngược dòng lịch sử, vào thời Trần (thế kỷ thứ 13), làng Phù Ủng thuộc huyện Đường Hào, châu Thượng Hồng, lộ Hải Đông; đời vua Lê Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên (1428 - 1433) gọi là Đông Đạo. Đến thời Nguyễn, niên hiệu Minh Mệnh 12 (năm 1831) chia tỉnh hạt trong nước, làng Phù Ủng thuộc xã Phù Ủng, tổng Chiêu Lai, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng. Trước Cách mạng tháng Tám, Phù Ủng thuộc tổng Huệ Lai, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Đường vào cụm di tích đền Phù Ủng, thôn Phù Ủng, xã Phạm Ngũ Lão, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Mekong ASEAN.

Đường vào cụm di tích đền Phù Ủng, thôn Phù Ủng, xã Phạm Ngũ Lão, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Mekong ASEAN.

Căn cứ vào bản Thần tích - thần sắc làng Phù Ủng lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội và theo truyền ngôn của các cụ cao niên trong thôn thì đền Phù Ủng là nơi tôn thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão, thường gọi là Đức Thánh Ủng.

Đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ảnh: Mekong ASEAN.

Đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ảnh: Mekong ASEAN.

Phạm Ngũ Lão là một danh tướng thời Trần, có công lao to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược vào năm 1285 và 1288. Các bộ sử sách như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính, Việt sử yếu của Hoàng Cao Khải… đều ghi chép lại công lao của Tướng quân Phạm Ngũ Lão.

Tượng thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão bên trong Hậu cung của ngôi đền. Ảnh: Mekong ASEAN.

Tượng thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão bên trong Hậu cung của ngôi đền. Ảnh: Mekong ASEAN.

Phạm Ngũ Lão sinh năm Ất Mão (1255), đời vua Trần Thái Tông, trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Phượng Hồng, lộ Hải Đông (nay là thôn Phù Ủng, xã Phạm Ngũ Lão, tỉnh Hưng Yên). Khi Phạm Ngũ Lão lên 5 tuổi, cha ông qua đời nên ông sống với mẹ. Từ nhỏ, Phạm Ngũ Lão đã tỏ ra là người lanh lợi, có chí và sức khỏe hơn người.

Nằm cách đền thờ Phạm Ngũ Lão khoảng 100m về phía nam là lăng mộ cụ Phạm Tiên Công (thân sinh Phạm Ngũ Lão). Ảnh: Mekong ASEAN.

Nằm cách đền thờ Phạm Ngũ Lão khoảng 100m về phía nam là lăng mộ cụ Phạm Tiên Công (thân sinh Phạm Ngũ Lão). Ảnh: Mekong ASEAN.

Tương truyền khi đó, làng Phù Ủng nằm ngay bên đường kinh lý giữa Thăng Long và xứ Đông. Hàng ngày, Phạm Ngũ Lão thường ngồi bên đường chẻ tre, vót nan, đan sọt, suy ngẫm về việc nước. Một hôm, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp trên đường về kinh đi ngang qua, thấy chàng trai đan sọt không chịu dẹp đường cho quan quân đi, một người lính đã lại gần quát tháo.

Do Phạm Ngũ Lão mải nghĩ về cuốn sách Binh thư nên không biết quan, quân trảy đến, vẫn điềm tĩnh ngồi đan sọt. Người lính cho là thất lễ với Hưng Đạo vương bèn dùng giáo đâm vào đùi người đan sọt, song vẫn ngồi yên như không biết có chuyện gì xảy ra.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thấy vậy cho là chuyện phi thường, bèn xuống ngựa, tới gần hỏi chuyện và luận bàn binh thư thế cuộc. Thấy Phạm Ngũ Lão tướng mạo khôi ngô, dũng khí khác thường lại ứng đáp trôi chảy, Hưng Đạo vương biết là người kì tài, bèn sai lính băng vết thương rồi cho mời về triều.

Cách đền chính khoảng 100m về phía tây bắc, là đền thờ Nhũ Mẫu - nơi tôn thờ mẹ nuôi Tướng Quân Phạm Ngũ Lão. Ảnh: Mekong ASEAN.

Cách đền chính khoảng 100m về phía tây bắc, là đền thờ Nhũ Mẫu - nơi tôn thờ mẹ nuôi Tướng Quân Phạm Ngũ Lão. Ảnh: Mekong ASEAN.

Sau khi về kinh đô, Hưng Đạo vương tiến cử Phạm Ngũ Lão lên triều đình với chức cai quản quân Cấm vệ. Vệ sĩ biết ông là nông dân thì không phục bèn xin tâu được cùng ông thử sức. Phạm Ngũ Lão bằng lòng, nhưng trước khi vào đấu sức, ông xin về quê 3 tháng.

Về quê, ngày nào Phạm Ngũ Lão cũng ra cái gò lớn ngoài đồng, đứng cách một tầm mà nhảy lên, nhảy mãi cho đến khi cái gò bị sạt mất một nửa. Hết hạn, ông trở về cấm thành, cùng các vệ sĩ so tài. Thấy ông tiến thoái như bay, tay đấm, chân đá thoăn thoắt, sức có thể địch nổi cả vài chục người nên quân lính cùng vệ sĩ hết sức ngưỡng mộ và bái phục…

Cách đền thờ Nhũ Mẫu khoảng 100m theo hướng tây bắc là Huê Văn. Ảnh: Mekong ASEAN.

Cách đền thờ Nhũ Mẫu khoảng 100m theo hướng tây bắc là Huê Văn. Ảnh: Mekong ASEAN.

Trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược, với những đóng góp to lớn, đặc biệt là trận diệt giặc trên sông Bạch Đằng vào năm 1287. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho Phạm Ngũ Lão cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Năm Giáp Ngọ (1294) nhờ lập công khi đi đánh ở Ai Lao, ông được ban Kim Phù (tức binh phù làm bằng vàng).

Năm Đinh Dậu (1297) cũng nhờ lập công khi đi đánh trận ở Ai Lao, Phạm Ngũ Lão được ban Vân Phù (tức binh phù có khắc chạm hình mây). Năm Tân Sửu (1301), ông được phong làm Thân Vệ Đại tướng Quân và được ban Quy Phù (tức binh phù có chạm hình con rùa). Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu.

Mô Hòn Ngọc (còn gọi là gò Kim Ấn), tọa lạc tại hồ nước phía trước đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ảnh: Mekong ASEAN.

Mô Hòn Ngọc (còn gọi là gò Kim Ấn), tọa lạc tại hồ nước phía trước đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ảnh: Mekong ASEAN.

Không chỉ là một vị tướng giỏi về mặt quân sự, Phạm Ngũ Lão còn là một tác gia xuất sắc về thơ phú. Người đời từng biết đến tác phẩm “Thuật hoài” nổi tiếng của ông và khi Hưng Đạo Đại vương mất, Phạm Ngũ Lão có bài “Khóc Trần Hưng Đạo”. Thơ văn của Phạm Ngũ Lão còn truyền lại cho thế hệ sau hào khí Đông A hào hùng, mãnh liệt: “Múa giáo non sông trải mấy thâu/ Ba quân khí thế át sao Ngưu...”.

Lập đền thờ trên nền nhà cũ của gia đình

Vào ngày mồng 1/11/1320 đời vua Trần Minh Tông, Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão mất tại Phủ Đệ, thọ 66 tuổi. Vua Trần thương tiếc nghỉ chầu 5 ngày và truy tặng ông là Chiêu Cảm Đại vương, phong phúc thần tại bản hương quê nhà. Để tưởng nhớ vị tướng tài của đất nước, triều đình cho lập đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão ngay trên nền nhà cũ của gia đình ông, hương khói muôn đời thờ phụng - đó chính là đền Phù Ủng ngày nay.

Về di tích đền Phù Ủng, theo tài liệu của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên, đến thời Lê, đền được trùng tu toàn bộ với kiến trúc mặt bằng tổng thể kiểu chữ Nhất gồm 7 gian. Sau đó, đền được tu sửa nhiều lần vào thời Nguyễn. Năm 1948, ngôi đền chính thờ Phạm Ngũ Lão bị thực dân Pháp đốt chỉ còn một số các hạng mục nhỏ quanh đền.

Hồ nước phía trước đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão quanh năm xanh mát. Ảnh: Mekong ASEAN.

Hồ nước phía trước đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão quanh năm xanh mát. Ảnh: Mekong ASEAN.

Từ năm 1986 - 1989, được sự đầu tư của Nhà nước và nhân dân, cụm di tích từng bước được khôi phục. Ngày 16/11/1988, đền Phù Ủng được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là “Di tích lịch sử - Địa điểm lưu niệm danh tướng Phạm Ngũ Lão”.

Kể từ đó cho đến nay, di tích Phù Ủng đã nhiều lần tu sửa, tôn tạo qua các năm. Trong đó, năm 1993, tiến hành kè, xây dựng tường bao khu vực ao Tầm Sét; năm 1999, phục dựng chùa Cảm Ân; năm 2001, tiếp tục tu bổ ao Tầm Sét; từ năm 2005 - 2006, tu bổ toàn bộ khu đền công chúa Tĩnh Huệ, từ chỉ tiến sĩ Vũ Hồng Lượng, kè hồ và xây dựng lầu 8 mái trên mô Hòn Ngọc, xây dựng nhà khách.

Tam quan chùa Cảm Ân. Ảnh: Mekong ASEAN.

Tam quan chùa Cảm Ân. Ảnh: Mekong ASEAN.

Ngày nay, cụm di tích được tu sửa khang trang sạch đẹp, được chia làm 2 khu gồm khu ngoài và khu trong.

Khu ngoài gồm có đền thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão, lăng Phạm Tiên Công (thân phụ Tướng quân Phạm Ngũ Lão), đền thờ Nhũ Mẫu (mẹ nuôi Tướng quân Phạm Ngũ Lão), Huê Văn, lầu Tư Văn và các gò đống (mô đai, mô cây xoài, mô quả thừng), mô Hòn Ngọc… sắp xếp xung quanh ngôi đền thờ Phạm Ngũ Lão.

Đền chính thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão có kết cấu kiến trúc gồm 3 tòa: Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Các cấu kiện kiến trúc được làm giả gỗ, mang phong cách truyền thống, vững chắc. Phía trên ban thờ tòa Tiền tế treo bức hoành phi đề bốn chữ Hán “Phạm nhất trung quân”.

Tại trung tâm tòa Hậu cung có đặt một khám thờ lớn, trong khám đặt tượng Phạm Ngũ Lão đúc thời Nguyễn, tượng nặng 300kg được tạo tác trong tư thế ngồi trên ngai, mặc áo cẩm bào, đầu đội mũ cánh chuồn, tay cầm ngọc quý, gương mặt cương nghị, đôn hậu. Phía trên có bức đại tự ghi bốn chữ Hán “Đệ nhất lương quân”.

Nằm cách đền thờ Phạm Ngũ Lão khoảng 100m về phía nam là lăng mộ cụ Phạm Tiên Công (thân sinh Phạm Ngũ Lão). Lăng xây theo hình kiệu long đình, có tắc môn cùng hai cột đồng trụ, xung quanh thềm lát đá xanh. Sau lăng là mộ của cụ, xây theo hình tròn và tiếp sau là hậu bành - nơi thờ cúng tổ tiên.

Tương truyền, trước mặt lăng xưa kia có 7 mô đất nằm rải rác tạo thành chùm thất tinh là nơi luyện tập võ nghệ của Phạm Ngũ Lão và còn có dấu tích gò “Linh” là nơi chôn cất “Ngũ phù” được vua ban tặng sau các chiến công của ông.

Còn theo truyền ngôn trong làng, khu lăng mộ này do công chúa Tĩnh Huệ tu bổ, tôn tạo khi bà xin xuất giá về bản hương tu Phật. Ngay sau lăng mộ là ao Mắt Rồng (còn gọi là ao Tầm Sét) và cây sanh cổ thụ.

Chùa Cảm Ân (còn gọi là chùa Bảo Sơn). Ảnh: Mekong ASEAN.

Chùa Cảm Ân (còn gọi là chùa Bảo Sơn). Ảnh: Mekong ASEAN.

Nằm cách đền chính khoảng 100m về phía tây bắc, là đền thờ Nhũ Mẫu - nơi tôn thờ mẹ nuôi Tướng Quân Phạm Ngũ Lão. Đền có kết cấu kiến trúc hình chữ Đinh với 3 gian Tiền tế và 2 gian Hậu cung. Sau đền là giếng Ngọc có nước trong xanh, chỉ được sử dụng vào các dịp tế lễ. Bên cạnh giếng ngọc là mô quả thừng, tương truyền là nơi Phạm Ngũ Lão ngồi chẻ tre đan sọt khi xưa.

Tại Hậu cung đền còn lưu giữ tượng thờ Nhũ Mẫu bằng gỗ và bốn pho tượng hầu bằng đá. Tương truyền, các pho tượng hầu bằng đá được lấy từ biên ải Lạng Sơn. Khi Phạm Ngũ Lão làm tướng dưới thời Trần, giặc đã bắt bà Nhũ Mẫu và một số người lên đó ép Phạm Ngũ Lão ra hàng. Bà tuẫn tiết để tỏ rõ khí thế. Bà được vua ban 4 chữ: “Nghiêm ứng thánh mẫu”.

Bên cạnh chùa Cảm Ân là đền thờ Cung phi Tĩnh Huệ. Ảnh: Mekong ASEAN.

Bên cạnh chùa Cảm Ân là đền thờ Cung phi Tĩnh Huệ. Ảnh: Mekong ASEAN.

Cách đền thờ Nhũ Mẫu khoảng 100m theo hướng tây bắc là Huê Văn, kiến trúc chồng diềm 2 tầng 8 mái. Xưa kia, đây là nơi các quan trong triều về tế lễ, tới đây bình thơ và ngoạn cảnh.

Và cách đền chính khoảng 200m về phía nam là lầu Tư Văn. Làng Phù Ủng từ xa xưa được biết đến là một vùng đất có truyền thống hiếu học. Truyền thống ấy được người dân lưu truyền và tạc vào bia đá như nhắc nhở thế hệ sau kế thừa sự nghiệp khoa cử của các bậc tiền nhân. Lầu Tư Văn chính là biểu tượng cho truyền thống hiếu học của làng Phù Ủng.

Đền Tam Tòa Thánh Mẫu bên cạnh chùa Cảm Ân. Ảnh: Mekong ASEAN.

Đền Tam Tòa Thánh Mẫu bên cạnh chùa Cảm Ân. Ảnh: Mekong ASEAN.

Những di tích gắn với công chúa Tĩnh Huệ và các nhân vật được thờ

Nằm cách đền thờ chính khoảng hơn 300m, bên khu trong là các di tích gắn với công chúa Tĩnh Huệ - con gái Tướng quân Phạm Ngũ Lão, thứ phi vua Trần Anh Tông, gồm có chùa Cảm Ân, đền thờ công chúa Tĩnh Huệ, đền Tam tòa Thánh Mẫu, từ chỉ Vũ Hồng Lượng…

Lầu Bồ Tát bên cạnh tam quan chùa. Ảnh: Mekong ASEAN.

Lầu Bồ Tát bên cạnh tam quan chùa. Ảnh: Mekong ASEAN.

Chùa Cảm Ân (còn gọi là chùa Bảo Sơn) do Tướng quân Phạm Ngũ Lão xây dựng vào năm 1309. Trước kia vốn ở bên kia sông, sau này chuyển sang bên này sông để tiện cho việc thờ cúng.

Theo tài liệu, sau khi công chúa Tĩnh Huệ vào hầu vua Trần Anh Tông, ở ngôi Thứ phi, bà không có con nên xin xuất gia về tu phật tại đây và đã lập điện phía đông chùa làm nơi thờ cúng tổ tiên. Thượng Hoàng đến ngự xem và ban cho biển ngạch để tỏ rõ lòng hiếu kính của bà và đổi tên chùa Bảo Sơn thành chùa Cảm Ân.

Chùa Cảm Ân xây kiến trúc hình chữ Đinh gồm 5 gian Tiền đường và 3 gian Thượng điện. Tam quan chùa Cảm Ân được xây chồng diềm 2 tầng 8 mái, lợp ngói ta với 8 góc đao cong lên thanh thoát. Phía trước tam quan chùa Cảm Ân là dòng sông Cửu Yên trong xanh, uốn khúc như dải lụa.

Nằm cách chùa Cảm Ân và đền thờ công chúa Tĩnh Huệ khoảng 100m về phía đông bắc là từ chỉ Vũ Hồng Lượng. Ảnh: Mekong ASEAN.

Nằm cách chùa Cảm Ân và đền thờ công chúa Tĩnh Huệ khoảng 100m về phía đông bắc là từ chỉ Vũ Hồng Lượng. Ảnh: Mekong ASEAN.

Còn theo tài liệu hiện được lưu giữ tại Phòng Văn hóa - Xã hội xã Phạm Ngũ Lão, do không có con nên công chúa Tĩnh Huệ xin xuất gia theo Phật. Năm 1325, bà mất, người dân lập đền thờ bà ngay bên cạnh chùa Cảm Ân.

Đền quay ra hướng đông trông ra tam quan và dòng sông Cửu Yên. Đền có kiến trúc theo kiểu “tiền Nhất hậu Đinh” gồm 3 gian Tiền tế, 3 gian Trung từ và 3 gian Hậu cung. Tòa Trung từ đặt khám thờ và tượng công chúa Tĩnh Huệ. Hậu cung có kiến trúc chồng diêm 3 tầng 12 mái, tại đây đặt khám thờ và tượng Trần Triều - Hưng Đạo Đại vương. Hai bên tả, hữu là khám thờ và tượng quận chúa Anh Nguyên và công chúa Thiên Thành.

Hàng năm, vào dịp lễ hội đầu xuân, trong quá trình rước kiệu công chúa Tĩnh Huệ về đền chính để trình cha (Tướng quân Phạm Ngũ Lão) đều phải rước qua đền Nhũ Mẫu và lăng Phạm Tiên Công với ngụ ý để thăm ông bà và mời ông bà về đền chính để cùng dự hội. Điều đó chứng tỏ sự gắn bó với quê hương với tổ tiên và lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ hết sức sâu nặng của công chúa Tĩnh Huệ. Ngoài ra, dân làng còn tổ chức cúng giỗ bà vào ngày 3/6 âm lịch.

Hiện từ chỉ Vũ Hồng Lượng còn lưu giữ được khá nguyên vẹn các hạng mục công trình điêu khắc đá. Ảnh: Mekong ASEAN.

Hiện từ chỉ Vũ Hồng Lượng còn lưu giữ được khá nguyên vẹn các hạng mục công trình điêu khắc đá. Ảnh: Mekong ASEAN.

Nằm cách chùa Cảm Ân và đền thờ công chúa Tĩnh Huệ khoảng 100m về phía đông bắc là từ chỉ Vũ Hồng Lượng, một công trình điêu khắc đá thời Lê Trung Hưng. Hiện từ chỉ Vũ Hồng Lượng còn lưu giữ được khá nguyên vẹn các hạng mục công trình điêu khắc đá.

Bên trong khuôn viên từ chỉ có 2 bia đá với tiêu đề “Vũ Tướng từ chỉ bi” (Bia Từ chỉ Vũ tướng công) có niên đại Vĩnh Thọ 3 (1660) và bia đá với tiêu đề “Vũ Tướng công thực lục bi” (Bia ghi lại hành trạng Vũ tướng công) có cùng niên đại…

Về lễ hội, theo thông tin từ bản Thần tích - thần sắc làng Phù Ủng, tổng Huệ Lai, phủ Ân Thi, tỉnh Hưng Yên được ghi chép năm 1938 thì xưa kia làng Phù Ủng tổ chức nhiều dịp lễ tiết trong một năm. Chính hội từ ngày 11 - 13 tháng Giêng âm lịch, nhằm tưởng nhớ ngày Tướng quân Phạm Ngũ Lão ra quân đánh giặc.

Trong lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội kết hợp, vừa trang trọng, tôn nghiêm, vừa rộn ràng, vui tươi. Đây là một trong những lễ hội lớn đầu xuân của tỉnh và trong vùng, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương tham gia.

Phùng Nguyện

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/ve-phu-ung-nghe-chuyen-ke-ve-danh-tuong-pham-ngu-lao-va-nhung-di-tich-54281.html