Vẹn nguyên niềm kính yêu Bác (Bài 1): Chuyện kể lãnh tụ

Cả cuộc đời của Người tận hiến cho Tổ quốc, cho Nhân dân. Là vị lãnh tụ vĩ đại nhưng Bác luôn gần gũi, quan tâm, dành tình yêu thương đến mọi người. Những câu chuyện kể về Bác Hồ vừa rất đời, giản dị mà vẫn toát lên phẩm cách của 'vị cha già dân tộc', gợi bao niềm xúc động chân thành.

Trong lòng những thế hệ người dân Việt Nam luôn có Bác Hồ.

Trong lòng những thế hệ người dân Việt Nam luôn có Bác Hồ.

Năm 1911, khi mới 21 tuổi, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Hành trang theo Người khi ấy là ý chí và khát vọng đến một ngày có thể quay trở về giúp đỡ đồng bào. Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về quê hương. Vượt qua biên giới, đặt chân lên đất nước, Người nhìn thật lâu vào khoảng trời của Tổ quốc. Dáng hình đất nước tươi đẹp nhưng cũng nặng bao nỗi đau thương. Và ngay trong lần đầu tiên trở về, vì không muốn làm phiền đến cuộc sống của người dân bản, Bác Hồ và những người đi cùng đã chọn một hang núi làm nơi ở tạm. Tại đây, Người đã đặt tên cho dòng suối mát lành, trong xanh như ngọc là suối Lê - Nin và ngọn núi hùng vĩ là núi Các - Mác. Tên gọi suối Lê - Nin, núi Các - Mác bắt đầu có từ ngày Bác Hồ về nước.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tuy nhiên, với thiên tài chính trị, lãnh tụ Hồ Chí Minh hiểu rằng, kẻ xâm lược sẽ không từ bỏ “miếng bánh thuộc địa”. Bác Hồ kêu gọi trí thức người Việt ở nước ngoài về quê hương kiến thiết đất nước.

Gần cuối năm 1946, với tầm ảnh hưởng của mình, Bác Hồ đã mời được những “vị khách đặc biệt” lên tàu về Việt Nam. Trong số đó có kỹ sư Võ Quý Huân, kỹ sư Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Đình Quỳnh, bác sĩ Trần Hữu Tước... Những con người bằng tài năng xuất sắc đã có nhiều đóng góp cho công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước.

Trong đó, Giáo sư, bác sĩ Trần Hữu Tước là người sáng lập và xây dựng ngành Tai Mũi Họng Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai (1956-1969), Viện trưởng đầu tiên của Viện Tai Mũi Họng Trung ương... Với cố Giáo sư Trần Hữu Tước, “Hồ Chủ tịch là hiện thân đầy đủ của sự kiên trì lí tưởng giải phóng và cách mạng cho dân tộc Việt Nam”. Không chỉ vậy, trong những tâm tình đầy xúc động của mình về Bác, ông từng nói: “Nếu không có sự giúp đỡ và giáo dục của Đảng và Bác Hồ thì tôi mãi mãi sẽ là con người lưu vong, cả cuộc đời sẽ không tìm thấy ý nghĩa”.

Nhắc đến Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, người đời nhớ đến một kỹ sư, nhà khoa học đã đặt nền móng cho việc xây dựng ngành khoa học - kỹ thuật quân sự và công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Điều ít người biết, ông vốn tên là Phạm Quang Lễ, trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra vào ngày 19/12/1946, Bác Hồ đã đặt tên cho ông là Trần Đại Nghĩa với những gửi gắm sâu sắc.

Đầu tháng 12/1946, khi dự cảm về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhằm bảo vệ đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ sắp nổ ra, Bác Hồ cho mời kỹ sư Phạm Quang Lễ đến. Bác nói thân mật: “Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú đến để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc. Bác nói tiếp, việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay, Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ cho gia đình, bà con chú còn ở trong Nam... Một là họ Trần, không có họ với Bác, đấy là họ của Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với Nhân dân, với đất nước...”.

Không chỉ dành sự quan tâm cho những người thân cận. Tình yêu thương chan chứa của Bác còn dành cho hết thảy mỗi người dân Việt Nam giản dị mà thật tinh tế. Chuyện kể rằng, có một lần Bác Hồ được tặng một chiếc áo bu dông để mặc trong mùa đông giá rét, nhưng Bác không giữ cho riêng mình mà tặng lại cho một cán bộ có chồng đang bị giam ở nhà tù Côn Đảo với lời căn dặn: “Bác không tặng cái áo này cho cô Chi đâu. Cô giữ lấy đến khi nào chú ấy ở ngoài Côn Đảo về thì để chú ấy mặc”. Người phụ nữ được Bác tặng chiếc áo ngày hôm đó là cụ Trần Thị Minh Châu (tên thường gọi là Chi - PV), nguyên Chánh Văn phòng Khu Giải phóng Trung ương, Cục trưởng Cục Xuất bản...

Món quà của Bác đã gieo vào lòng nữ chiến sĩ niềm xúc động thiêng liêng: “Tôi sửng sốt quá vì chưa bao giờ tôi thấy Bác hỏi về hoàn cảnh gia đình tôi. Vậy mà Bác biết rõ anh Đào Duy Kỳ, chồng tôi, đang ở nhà tù Côn Đảo. Tôi cảm động không cầm nổi nước mắt. Tôi thấy tấm lòng của Bác thật mênh mông. Đó là tấm lòng của người cha vô cùng tôn kính, vô cùng thân thương, luôn luôn lo lắng, chăm sóc hết mực cho con cái”.

Những chuyện kể về Bác Hồ luôn có sức hấp dẫn, lôi cuốn với mọi người.

Những chuyện kể về Bác Hồ luôn có sức hấp dẫn, lôi cuốn với mọi người.

Cũng theo lời kể của cụ Trần Thị Minh Châu, trong thời gian ở Khu Giải phóng đóng tại Tân Trào, người dân các huyện Sơn Dương, Định Hóa (cũ) dù nghèo nhưng đã dành tất cả những thứ tốt nhất để tiếp tế cho Khu Giải phóng, còn gia đình thì rau cháo qua ngày. Đồng bào nói: “... Bộ đội Cụ Hồ đánh Tây, đuổi Nhật, nước Việt Nam được độc lập tự do, mình sẽ được ấm no”. Trân quý tình cảm của đồng bào, nên trước khi về Hà Nội, Bác Hồ dặn những người xung quanh: “Ta chẳng có tiền, cũng chẳng có vật gì kỷ niệm cho đồng bào. Có đống dù của Mỹ, các cô chịu khó tháo từng ô đem biếu đồng bào. Tính theo đầu người, mỗi người một mảnh. Đồng bào có thể cắt may áo, may chăn”.

Giữa bộn bề công việc của đất nước, Bác Hồ luôn dành thời gian, sự quan tâm đến cuộc sống người dân. Một lần ghé thăm khu trại điều dưỡng cán bộ miền Nam ở Thường Tín và Thanh Trì, Bác đã giữ bí mật với ngay cả người phụ trách Trại. Vì thế, khi Bác đến thì các xã viên đang họp trong hội trường. “Bác bảo: Người ta đang họp, mình vào làm gì? Thôi để cho người ta họp. Bác chỉ một góc sân: Thôi ta đứng ở đây. Anh em đi theo Bác, thấy Bác ngồi xuống đất thì tất cả đều ngồi xung quanh”. Hay khi phải đi bộ nhiều, anh em bảo vệ sợ Bác mệt nên can không đi nữa, nhưng Bác lại nói: “Thì đi chứ sao, người ta đi được thì mình đi được”... Những mẩu chuyện nhỏ này, được nữ Thứ trưởng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - cụ Lê Minh Hiền ghi lại trong hồi kí.

Trong hồi kí, cụ Lê Minh Hiền viết: “Có nhiều dịp được tiếp xúc làm việc gần Bác, tôi thấy Bác rất quan tâm đối với cán bộ miền Nam cũng như đối với phụ nữ. Bác lắng nghe và ân cần chăm sóc thăm hỏi động viên họ; khuyên bảo cán bộ phụ nữ phải đi sát quần chúng... Đối với dân, Bác rất tôn trọng, quan tâm đến đời sống, sinh hoạt của mọi người. Bác sống giản dị, thanh đạm... Bác là một lãnh tụ đặc biệt”.

Còn biết bao những câu chuyện kể về Người mà mỗi một chuyện đều khiến người nghe rưng rưng xúc động, thêm kính yêu Bác bội phần.

(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Suốt đời học Bác, Kiều Mai Sơn ghi chép, NXB Kim Đồng, 2025).

Bài và ảnh: Khánh Lộc

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/ven-nguyen-niem-kinh-yeu-bac-bai-1-nbsp-chuyen-ke-lanh-tu-43402.htm