Vét hạch cổ chọn lọc dựa trên bản đồ hạch, giảm nguy cơ biến chứng cho người bệnh ung thư tuyến giáp

Kỹ thuật vét hạch cổ chọn lọc dựa trên bản đồ hạch giúp bác sĩ lấy đủ mô hạch trong khoang cần đánh giá, hỗ trợ phát hiện ổ di căn kích thước rất nhỏ, đồng thời hạn chế những can thiệp không cần thiết. Qua đó, người bệnh mắc tuyến giáp được kiểm soát tổn thương hiệu quả, giảm nguy cơ biến chứng và bảo đảm an toàn sau phẫu thuật.

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân. (Ảnh: THÚY QUỲNH)

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân. (Ảnh: THÚY QUỲNH)

Các bác sĩ Bệnh viện Nội tiết Trung ương vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật bằng phương pháp vét hạch cổ chọn lọc dựa trên bản đồ hạch, cho nữ bệnh nhân N.T.T, 55 tuổi, quê Hưng Yên với chẩn đoán ung thư tuyến giáp thể nhú thùy trái, kèm tổn thương hạch nghi ngờ tại vùng cổ bên trái.

Bệnh nhân có 2 trên 6 hạch cổ khoang bên trái là hạch di căn ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú

Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huân, Khoa Ngoại chung (Bệnh viện Nội tiết Trung ương) cho biết, qua thăm khám và thực hiện các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, trên siêu âm và chụp CT, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân T. có hạch bất thường tại nhóm III cổ trái. Tuy nhiên, kết quả chọc hút tế bào hạch trước phẫu thuật chỉ cho thấy hạch viêm mạn tính, chưa phát hiện tế bào ung thư.

Do đặc điểm hình ảnh vẫn còn nghi ngờ, ê-kíp phẫu thuật đã tiến hành định vị hạch bằng siêu âm và đánh dấu vị trí trên da theo các mốc giải phẫu trước khi phẫu thuật. Đây là bước quan trọng giúp xác định chính xác khoang hạch cần tiếp cận và định hướng phạm vi can thiệp trong quá trình phẫu thuật.

Người bệnh được thực hiện cắt toàn bộ tuyến giáp kết hợp vét hạch cổ chọn lọc nhóm III bên trái. Điểm đáng chú ý trong kỹ thuật là phẫu thuật không chỉ lấy riêng hạch bất thường có thể quan sát được bằng mắt thường mà tiến hành lấy trọn mô mỡ-hạch trong khoang giải phẫu nhóm III. Cách tiếp cận này giúp đánh giá đầy đủ các hạch nằm trong khoang giải phẫu đã được xác định, qua đó hạn chế nguy cơ bỏ sót những ổ tổn thương có kích thước rất nhỏ, khó nhận diện trong quá trình phẫu thuật.

Theo bác sĩ Huân, kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật cho thấy, bệnh nhân có 2 trên 6 hạch cổ khoang bên trái là hạch di căn ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú, trong khi hạch trung tâm không ghi nhận di căn.

Đáng chú ý, ổ di căn lớn nhất chỉ có kích thước 1mm và không ghi nhận xâm lấn ngoài hạch. Đây là hiện tượng di căn hạch “nhảy cóc” trong ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú, khi tế bào ung thư di căn tới hạch cổ khoang bên mà không ghi nhận di căn tại hạch cổ khoang trung tâm.

“Trường hợp của bệnh nhân N.TT. cho thấy, các ổ di căn hạch trong ung thư tuyến giáp có thể có kích thước rất nhỏ và không dễ nhận diện bằng mắt thường trong quá trình phẫu thuật. Đồng thời, kết quả chọc hút tế bào hạch trước mổ chưa phát hiện tế bào ung thư cũng không loại trừ hoàn toàn khả năng có ổ di căn, đặc biệt khi hình ảnh học vẫn cho thấy những đặc điểm nghi ngờ”, bác sĩ Huân nhận định.

Sau phẫu thuật, người bệnh ổn định, không ghi nhận khàn tiếng, không tê tay, không chảy máu và không rò dưỡng chấp (một loại dịch màu trắng sữa, lưu thông trong ống ngực và có vai trò quan trọng trong việc hấp thu chất béo, cung cấp dinh dưỡng và hỗ trợ miễn dịch). Người bệnh ăn uống, sinh hoạt trở lại bình thường ngay từ ngày đầu tiên sau mổ.

Bác sĩ Huân cho biết, trong phẫu thuật hạch cổ, việc xác định phạm vi can thiệp cần bảo đảm hai yêu cầu: tránh bỏ sót hạch di căn nhưng đồng thời không vét hạch quá mức. Vét hạch rộng hơn cần thiết có thể làm tăng mức độ tổn thương mô và nguy cơ xuất hiện các tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật, trong đó đáng lưu ý là chảy máu và rò dưỡng chấp.

Vì vậy, việc lập bản đồ hạch trước phẫu thuật có ý nghĩa quan trọng trong xác định vị trí, khoang giải phẫu và phạm vi cần can thiệp. Trên cơ sở đó, phẫu thuật viên có thể lựa chọn phương án phù hợp với đặc điểm tổn thương của từng người bệnh, lấy đủ mô trong khoang hạch cần đánh giá nhưng hạn chế tối đa việc mở rộng phẫu trường (vùng cơ thể sẽ được phẫu thuật) không cần thiết.

Theo bác sĩ Bệnh viện Nội tiết Trung ương, hiện bệnh viện đang triển khai các kỹ thuật phẫu thuật tuyến giáp và vét hạch cổ theo hướng cá thể hóa, giúp xác định tương đối chính xác vị trí, phạm vi tổn thương, hạn chế tối đa những can thiệp không cần thiết, đồng thời bảo đảm yêu cầu kiểm soát tổn thương và an toàn cho người bệnh.

Siêu âm tuyến giáp có vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các bất thường tại tuyến giáp. (Ảnh: Bệnh viện Nội tiết Trung ương)

Siêu âm tuyến giáp có vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các bất thường tại tuyến giáp. (Ảnh: Bệnh viện Nội tiết Trung ương)

Số ca ung thư tuyến giáp tăng nhanh nhất

Theo các chuyên gia nội tiết, ung thư tuyến giáp đang gia tăng nhanh tại Việt Nam, đặc biệt ở nữ giới, tuy nhiên tỷ lệ tử vong thấp và tiên lượng tốt. Hiện tại, ung thư tuyến giáp nằm trong 10 loại ung thư phổ biến nhất Việt Nam.

Ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết, ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý.

Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100-6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, 850–900 trường hợp tử vong mỗi năm. Căn bệnh đứng trong Top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm của người bệnh có thể đạt trên 90%.

Một xu hướng đáng lưu ý là số ca mắc tăng nhanh trong khoảng 20 năm trở lại đây. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc đã tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân trong giai đoạn (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm - thuộc nhóm tăng nhanh nhất trong các loại ung thư.

Các chuyên gia cho rằng, sự gia tăng nhanh số ca mắc ung thư tuyến giáp không hoàn toàn phản ánh sự gia tăng thực sự của bệnh lý, mà phần lớn đến từ việc phát hiện nhiều hơn nhờ các phương tiện chẩn đoán hiện đại.

Việc sử dụng rộng rãi siêu âm, CT, MRI trong khám sức khỏe định kỳ đã giúp phát hiện nhiều nhân giáp nhỏ, tiến triển chậm, thậm chí không cần can thiệp ngay. Theo thống kê, có tới 19-68% dân số có nhân giáp, nhưng chỉ khoảng 3-7% trong số này là ung thư.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy rõ vấn đề này. Tại Hàn Quốc, trong vòng 10 năm, số ca chẩn đoán ung thư tuyến giáp tăng tới 15 lần, nhưng tỷ lệ tử vong không thay đổi đáng kể.

Trước thực trạng trên, Bộ Y tế xác định rõ định hướng chuyển từ tư duy "phát hiện càng nhiều càng tốt" sang "phát hiện đúng-điều trị đúng-quản lý phù hợp".

Theo ông Nguyễn Trọng Khoa, một loạt giải pháp chiến lược đã được đề ra. Trong đó, không triển khai sàng lọc đại trà đối với người không có triệu chứng, chỉ tập trung vào nhóm nguy cơ cao nhằm hạn chế chẩn đoán quá mức.

Bên cạnh đó, việc chuẩn hóa quy trình chẩn đoán được đẩy mạnh thông qua áp dụng các hệ thống phân loại như Tirads trong siêu âm và Bethesda trong tế bào học, giúp phân tầng nguy cơ và giảm chỉ định can thiệp không cần thiết.

Một điểm nhấn quan trọng là cá thể hóa điều trị. Với nhóm nguy cơ thấp, người bệnh có thể được theo dõi tích cực thay vì phẫu thuật ngay. Trong khi đó, các trường hợp nguy cơ trung bình và cao sẽ được điều trị phù hợp, bao gồm phẫu thuật và sử dụng iod phóng xạ khi có chỉ định.

Ngành y tế cũng hướng tới kiểm soát chặt chẽ chỉ định phẫu thuật, giảm tỷ lệ can thiệp không cần thiết, đồng thời tăng cường quản lý bệnh theo hướng mạn tính, theo dõi lâu dài.

Hà Minh

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/vet-hach-co-chon-loc-dua-tren-ban-do-hach-giam-nguy-co-bien-chung-cho-nguoi-benh-ung-thu-tuyen-giap-post993420.html