Vì sao doanh nghiệp khoa học công nghệ vẫn chưa thể bứt tốc?
Theo các chuyên gia, đầu tư cho khoa học công nghệ là khoản đầu tư dài hạn, đòi hỏi nguồn lực lớn và mức độ rủi ro cao.

Các hoạt động khoa học công nghệ đóng góp tích cực vào GDP và tác động tích cực đến các hoạt động kinh tế khác
Dư địa tăng trưởng lớn
Không chỉ là lực lượng ứng dụng, doanh nghiệp khoa học công nghệ đang chứng minh vai trò đóng góp ngày càng rõ trong nền kinh tế. Theo đánh giá bước đầu sau một năm thực hiện Nghị quyết 57, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đã được thúc đẩy mạnh mẽ, công nghệ số, dữ liệu lớn và tự động hóa được ứng dụng sâu rộng trong quản lý và sản xuất kinh doanh. Năm 2025, các hoạt động khoa học công nghệ đóng góp trực tiếp trong GDP khoảng 1,68% và đóng góp gián tiếp khoảng 0,81% từ tác động lan tỏa đến các hoạt động kinh tế khác. Tổng giá trị quy đổi từ tác động trực tiếp và gián tiếp tương đương 320,4 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% so với năm 2024 và tăng khoảng 51% so với năm 2020.
Thực tế cũng cho thấy, khi doanh nghiệp khoa học công nghệ được công nhận và hưởng chính sách phù hợp, tác động tích cực là rõ ràng. Bà Trần Thanh Việt, CEO Vgreen, doanh nghiệp vừa đạt giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ năm 2025 chia sẻ, việc được công nhận đã mang lại nhiều lợi ích. Thương hiệu của doanh nghiệp được tin tưởng hơn, đối tác đánh giá cao hơn, hệ thống phân phối dễ mở rộng và sản lượng tiêu thụ tăng gấp đôi so với năm ngoái.
Tuy nhiên, bà Việt cũng cho biết, doanh nghiệp gặp không ít trở ngại khi tiếp cận chính sách ưu đãi. Danh mục ưu đãi và điều kiện đi kèm còn khó hiểu, nhiều thuật ngữ chuyên môn, quy định chồng chéo khiến doanh nghiệp khó tự xác định. Bên cạnh đó, thiếu đơn vị hướng dẫn trực tiếp và đồng hành sau khi được công nhận cũng là rào cản lớn.
Rào cản thể chế và thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro
Dù có đóng góp rõ rệt, doanh nghiệp khoa học công nghệ vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển. Theo các chuyên gia, đầu tư cho khoa học công nghệ là khoản đầu tư dài hạn, đòi hỏi nguồn lực lớn và mức độ rủi ro cao.
Ông Nguyễn Trung Thực, Viện trưởng Viện Tin học doanh nghiệp (VCCI) cho biết, năm 2025 doanh nghiệp bắt đầu phục hồi nhưng tỷ lệ tạo tích lũy vốn chưa nhiều, vì vậy đầu tư cho khoa học công nghệ chưa trở thành ưu tiên. Khảo sát của VCCI cũng cho thấy 93% doanh nghiệp được hỏi khó dự đoán thay đổi chính sách pháp luật, ảnh hưởng đến xây dựng chiến lược công nghệ và đầu tư R&D trong trung và dài hạn.
Cùng với đó, thể chế hiện vẫn thiên về quản lý, kiểm soát hơn là khuyến khích và chia sẻ rủi ro; Chính sách ưu đãi cho R&D chưa đủ hấp dẫn, tiếp cận các quỹ hỗ trợ còn nhiều ràng buộc. Trong khi đó, các lĩnh vực mới như dữ liệu, AI, kinh tế số, công nghệ xanh phát triển nhanh, doanh nghiệp đi trước chính sách nhưng thiếu “hành lang pháp lý an toàn” để mạnh dạn đầu tư.
Từ thực tiễn, ông Thực cho rằng, để khơi thông đầu tư cho khoa học công nghệ cần bắt đầu từ đổi mới thể chế. Các bộ ngành cần hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về đầu tư, khoa học công nghệ, thuế, dữ liệu và sở hữu trí tuệ, hạn chế thay đổi đột ngột. Đặc biệt, cần phát triển cơ chế chia sẻ rủi ro công - tư trong đầu tư đổi mới sáng tạo thông qua quỹ đồng đầu tư, bảo lãnh R&D, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).
Đồng quan điểm, bà Nguyễn Hiền Phương, Tổng giám đốc Vietnamobile cho rằng, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp là hợp tác công - tư và chi phí tuân thủ. Khung pháp lý PPP cho hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu còn thiếu cụ thể, cơ chế chia sẻ rủi ro chưa rõ, quy trình phức tạp.
Ông Trần Xuân Đích, Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) nhấn mạnh, doanh nghiệp khoa học công nghệ không chỉ dừng ở việc “ứng dụng cái đã có”, mà cần hướng đến làm chủ công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số, năng lượng sạch, vật liệu mới.
Hiện nay cả nước có gần 1.000 doanh nghiệp khoa học công nghệ, trong đó nhiều đơn vị có doanh thu từ sản phẩm do mình đầu tư nghiên cứu, phát triển chiếm 60-90%. Một số doanh nghiệp đã vươn lên xây dựng thương hiệu công nghệ Việt Nam trong các lĩnh vực như y sinh, vi mạch - chip, công nghệ thông tin, công nghệ nông nghiệp, môi trường. Theo ông Đích, doanh nghiệp khoa học công nghệ là nơi hội tụ của 3 dòng chảy tri thức khoa học, vốn - thị trường và chính sách - thể chế, tạo nên “tam giác phát triển” nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp. Nếu thiếu sự cộng hưởng này, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo khó có thể bứt phá.
Trong giai đoạn phát triển mới, nhiều chuyên gia cho rằng dư địa lan tỏa của khoa học công nghệ vào nền kinh tế còn rất lớn. Ông Nguyễn Nhật Quang, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ (Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam) nhận định, các chính sách hiện nay mới tập trung “cởi trói” cho phần cung sản phẩm, chưa chú trọng tạo động lực mạnh mẽ để công nghệ thẩm thấu sâu hơn vào các ngành kinh tế trọng điểm. Ông cho rằng, cần mở đường để công nghệ đi sâu vào từng lĩnh vực sản xuất, tạo thị trường đủ tốt cho công nghệ “Make in Vietnam”.
Doanh nghiệp khoa học công nghệ đang đứng trước cơ hội lớn, nhưng cũng đối mặt với thách thức không nhỏ. Để khu vực này thực sự bứt tốc, điều quan trọng là tháo gỡ rào cản thể chế, đơn giản hóa cơ chế ưu đãi, xây dựng hành lang pháp lý an toàn và tạo cơ chế chia sẻ rủi ro công - tư. Khi đó, lĩnh vực này mới có thể trở thành động lực trung tâm đưa Việt Nam tiến nhanh hơn trên con đường tăng trưởng dựa vào tri thức và đổi mới sáng tạo.












