Vì sao mùa đông không còn khô lạnh như trước?

Theo PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà - Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, thời gian gần đây hoàn lưu này có sự biến động rõ rệt. Lượng hơi ẩm trong khí quyển cao hơn, nhiệt độ ấm hơn khiến mùa đông không còn khô và lạnh như trước...

PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà - Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho biết, sự chuyển đổi của thiên nhiên vốn là tín hiệu quen thuộc của các mùa. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, mùa đã xuất hiện nhiều dấu hiệu bất định hơn.

PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà - Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Ảnh: Hoàng Toàn)

PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà - Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Ảnh: Hoàng Toàn)

“Mùa đông năm nay có nhiều biểu hiện khác thường. Thông thường, Áp cao lạnh lục địa (hay Áp cao Siberia) ở phần đông bắc của lục địa Á-Âu (khu vực Siberia- Mông Cổ-Bắc Trung Quốc) sẽ tạo ra các đợt không khí lạnh khô trong đầu mùa đông. Khi các khối không khí lạnh di chuyển xuống phía nam và đi qua khu vực biển Hoa Đông và Biển Đông, chúng dần bị biến tính và trở nên ẩm hơn. Tuy nhiên, thời gian gần đây hoàn lưu này có sự biến động rõ rệt. Lượng hơi ẩm trong khí quyển cao hơn, nhiệt độ ấm hơn khiến mùa đông không còn khô và lạnh như trước. Ngay từ đầu mùa đã xuất hiện sương mù. Trong quá khứ cũng từng có những năm như vậy, nhưng năm 2025 biểu hiện rõ rệt hơn, cho thấy sự dịch chuyển của mùa đã khác trước”, PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà nhận định.

Theo Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, trước đây khu vực miền Bắc có thể phân biệt khá rõ bốn mùa xuân - hạ - thu - đông và quá trình chuyển mùa diễn ra từ từ. Tuy nhiên, dưới tác động của biến đổi khí hậu, sự chuyển tiếp này có thể xảy ra đột ngột hơn.

Thời gian chuyển tiếp giữa các mùa, đặc biệt giữa mùa đông và mùa xuân, có xu hướng trở nên ngắn hơn và biến động mạnh hơn trong một số năm gần đây. Sự nóng lên không đồng đều giữa các vùng trên quy mô lớn đã làm thay đổi hoàn lưu khí quyển, kéo theo sự thay đổi của hình thái thời tiết và chu trình nước.

“Có nơi trước đây khô hạn nhưng nay lại có khả năng có mưa bổ sung, trong khi những vùng từng dư thừa nước lại có nguy cơ thiếu hụt. Đời sống con người phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu và nguồn nước nên những thay đổi này sẽ tác động trực tiếp đến sinh hoạt và sản xuất”, bà Ngà cho biết.

Xuất hiện các tiểu vùng khí hậu mới

Bên cạnh sự thay đổi của các mùa, cấu trúc khí hậu tại Việt Nam cũng đang có dấu hiệu biến đổi. Theo các nghiên cứu trước đây, Việt Nam được chia thành 7 vùng khí hậu chính theo đặc điểm địa lý. Tuy nhiên, hiện nay ranh giới giữa các vùng này có thể đang dịch chuyển và trở nên khó phân định rõ ràng.

Một xu hướng khác là sự hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu nhỏ hơn. Việc nghiên cứu chi tiết các tiểu vùng này được đánh giá là cần thiết để xây dựng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ví dụ, xu hướng mưa bão có thể dịch chuyển nhiều hơn về cuối mùa, đồng thời tác động mạnh hơn tới khu vực phía Nam thay vì tập trung chủ yếu ở miền Trung như trước đây.

Theo Kịch bản BĐKH mới nhất, đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam có thể tăng trung bìnhkhoảng 3.0- độ C, nhưng có thể vượt 4.0 và 5.0 độ ở các ngưỡng phân vị 70 và 90 theo kịch SSP3-7.0.

PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà cho rằng, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, cũng được xem là hình mẫu về sự chủ động ứng phó thông qua việc xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng phục vụ hoạch định và lập kế hoạch thích ứng.

Là người trực tiếp định hướng và chỉ đạo xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam lần thứ 5, tiếp nối bốn lần công bố vào các năm 2009, 2012, 2016 và 2020, PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà cho biết, các kịch bản này được xây dựng dựa trên nhiều báo cáo khoa học quốc tế, trong đó có các đánh giá của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), đặc biệt là Báo cáo đánh giá lần thứ 6 công bố năm 2021.

“Trong lần cập nhật mới nhất, Việt Nam lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu trung bình và trung bình cao để làm cơ sở nghiên cứu và hoạch định chính sách. Theo kịch bản trung bình cao, đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam có thể tăng tới trung bình 3,0 độ C, và 4,0 độ C độ ở ngưỡng phân vị 70, thậm chí vượt 5,0 độ C ở ngưỡng phân vị 90 so với thời kỳ cơ sở. Đồng thời, hình thái mưa cũng sẽ thay đổi, đặc biệt là sự gia tăng của các trận mưa cực đoan. Mực nước biển có thể dâng khoảng 60-70 cm so với thời kỳ cơ sở 1995-2014 tùy từng khu vực. Nguy cơ ngập do nước biển dân được dự tính tập trung chủ yếu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, dù vậy ở kịch bản rất cao, mức ngập này sẽ gia tăng khi nước biển dâng đến gần mức 100 cm nếu tính cả đến chuyển động thẳng đứng của đất”, PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà chia sẻ.

Theo PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà, từ nay đến năm 2050, sự khác biệt giữa các kịch bản biến đổi khí hậu chưa quá lớn. Nguyên nhân là lượng khí nhà kính đã tích tụ trong khí quyển vẫn còn cao và khó có thể giảm mạnh trong ngắn hạn. Tuy nhiên, từ năm 2050 đến 2100, sự phân hóa giữa các kịch bản sẽ trở nên rõ rệt hơn, tùy thuộc vào khả năng kiểm soát phát thải của thế giới.

Ngoài ra, các mô hình khí hậu khi dự tính càng xa thì sai số càng lớn. Vì vậy, kịch bản biến đổi khí hậu cần được cập nhật định kỳ, theo luật KTTV là 5 năm một lần, để đảm bảo độ chính xác và phù hợp với diễn biến thực tế cũng như sự gia tăng những hiểu biết về khí hậu

“Đánh giá với kịch bản năm 2009, chúng tôi thấy diễn biến biến đổi khí hậu đang có xu thế nhanh hơn so với dự tính trước đây. Nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng cao hơn mức dự báo cho năm 2020 trong kịch bản cũ”, PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà cho biết.

Theo các nghiên cứu trên thế giới, nhiệt độ trung bình toàn cầu trong những thập kỷ gần đây cũng cao hơn rõ rệt so với các thập kỷ trước. Xu hướng này cũng được ghi nhận tại Việt Nam. Điều đó đồng nghĩa với việc thời tiết trong tương lai có thể xuất hiện nhiều hiện tượng cực đoan và khắc nghiệt hơn, thậm chí trái với quy luật tự nhiên trước đây.

Theo quy định của Luật Khí tượng Thủy văn, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển là đơn vị đầu mối quốc gia chịu trách nhiệm cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu định kỳ 5 năm một lần. Những kịch bản này đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và định hướng phát triển bền vững, thích ứng với BĐKH cho các địa phương trong tương lai.

Văn Ngân/VOV.VN

Nguồn VOV: https://vov.vn/xa-hoi/vi-sao-mua-dong-khong-con-kho-lanh-nhu-truoc-post1276198.vov