Việt Nam cần cấu trúc dẫn vốn mới cho tham vọng tăng trưởng

Để duy trì tăng trưởng trên 10% trong nhiều năm, Việt Nam cần một cấu trúc dẫn vốn cân bằng hơn để cung ứng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế.

Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đang đặt ra bài toán lớn về nguồn lực cho nền kinh tế. Trong nhiều năm, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo cho doanh nghiệp và các dự án đầu tư. Tuy nhiên, khi nhu cầu vốn ngày càng lớn và có xu hướng tập trung vào kỳ hạn dài, cấu trúc dẫn vốn hiện nay bắt đầu bộc lộ những giới hạn.

Chia sẻ tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức, các đại diện từ doanh nghiệp, ngân hàng, công ty chứng khoán và hạ tầng thị trường cùng chung nhận định: để duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng.

Bài toán không còn nằm ở việc huy động thêm bao nhiêu vốn mà là xây dựng một cấu trúc dẫn vốn cân bằng hơn, trong đó dòng vốn được phân bổ hiệu quả giữa hệ thống ngân hàng và thị trường vốn.

Khi tín dụng ngân hàng gánh quá nhiều vai trò

Bức tranh hiện nay cho thấy phần lớn nhu cầu vốn của doanh nghiệp vẫn được đáp ứng qua hệ thống ngân hàng. Điều đó khiến cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng cùng chịu áp lực khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.

Theo ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa – chiếm khoảng 97-98% tổng số doanh nghiệp – vẫn là đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất trong tiếp cận tín dụng.

Ông cho rằng chủ trương giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp là cần thiết nhưng trên thực tế, các ngân hàng vẫn phải cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ và yêu cầu kiểm soát rủi ro.

"Kết quả là chính sách càng ưu tiên thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại càng khó tiếp cận vốn trong khi vốn lại tập trung vào doanh nghiệp lớn. Cuối cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa lại càng chịu thiệt", ông nói.

Theo ông Thân, nếu doanh nghiệp vẫn chỉ có một kênh huy động vốn là vay ngân hàng thì khả năng tiếp cận vốn khó có thể cải thiện. Vì vậy, ông đề xuất sớm hoàn thiện cơ chế sandbox để phát triển các mô hình cho vay mới, qua đó mở rộng thêm các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, ông đánh giá doanh nghiệp hiện vẫn phụ thuộc quá nhiều vào tài sản bảo đảm. Hiệp hội đã kiến nghị sớm xây dựng cơ chế công nhận kết quả xếp hạng tín nhiệm.

Khi được thị trường thừa nhận, kết quả này không chỉ hỗ trợ ngân hàng trong quá trình thẩm định tín dụng mà còn giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn khi tham gia chuỗi cung ứng và tiếp cận nhà đầu tư.

Từ góc độ ngân hàng, ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank cho rằng xếp hạng tín nhiệm sẽ giúp thay đổi cách cấp tín dụng.

Khi doanh nghiệp được đánh giá bởi một tổ chức uy tín và kết quả được thị trường công nhận, ngân hàng có thể sử dụng đây như một cơ sở quan trọng trong quá trình thẩm định thay vì phụ thuộc quá nhiều vào đánh giá nội bộ.

Ông cho biết HDBank sẽ kiến nghị Hội đồng quản trị nghiên cứu cơ chế cho vay dựa trên tín nhiệm. Khi điểm tín nhiệm được cải thiện, doanh nghiệp có thể giảm yêu cầu về tài sản bảo đảm, đồng thời có điều kiện tiếp cận mức lãi suất thấp hơn.

Bài toán không còn nằm ở lãi suất

Nếu ở cấp doanh nghiệp, câu chuyện là khả năng tiếp cận vốn thì ở cấp hệ thống, vấn đề lớn hơn là cấu trúc nguồn vốn.

Ông Lê Mạnh Linh, Tổng giám đốc EVNFinance cho rằng lãi suất trước hết là câu chuyện cung cầu. Việt Nam đang theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao nên nhu cầu vốn đầu tư tăng mạnh. Khi cầu vốn vượt cung, chi phí vốn sẽ tăng theo.

Theo ông, áp lực còn đến từ sự mất cân đối về kỳ hạn. Các ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn nhưng phải tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn.

Trong khi vẫn phải cấp vốn cho các dự án mới, các tổ chức tín dụng đồng thời phải huy động nguồn lực để hoàn trả những khoản vốn đã vay trước đó. Điều này khiến chi phí huy động tăng lên và tạo sức ép lên lãi suất cho vay.

Ông cho rằng nếu để thị trường tự điều chỉnh, lãi suất chỉ giảm khi nhu cầu vay vốn suy yếu. Tuy nhiên, đây không phải kịch bản mong muốn vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tăng trưởng GDP.

Theo ông Linh, giải pháp mang tính căn cơ là mở rộng nguồn cung vốn dài hạn. Một mặt, Việt Nam cần thu hút thêm nguồn vốn quốc tế thông qua các tổ chức tài chính và quá trình phát triển trung tâm tài chính quốc tế.

Mặt khác, cần phát triển mạnh thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu để tạo nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp với các dự án đầu tư dài hạn.

Nhìn ở quy mô toàn nền kinh tế, nhiều ý kiến cho rằng vấn đề không nằm ở việc tín dụng quá lớn mà ở chỗ thị trường vốn phát triển chưa tương xứng.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam cho biết quy mô tín dụng hiện tương đương khoảng 146% GDP trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP.

Vấn đề cốt lõi vì vậy không phải tín dụng quá lớn mà là thị trường vốn còn quá nhỏ.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam

Theo ông, đến năm 2030, Việt Nam có thể cần khoảng 1.500 tỷ USD vốn đầu tư, tương đương gần ba lần GDP và khoảng 3,7 lần quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần đồng thời huy động nguồn lực trong nước và quốc tế.

Với dòng vốn nước ngoài, ông cho rằng Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ các rào cản tiếp cận thị trường và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nâng hạng theo chuẩn FTSE Russell, đồng thời sớm hướng tới các tiêu chuẩn cao hơn của MSCI trong giai đoạn 2029–2030.

Ở trong nước, vị lãnh đạo đề xuất mở rộng nguồn cung hàng hóa thông qua cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân IPO và cho phép doanh nghiệp FDI phát hành cổ phiếu lần đầu gắn với niêm yết.

Song song với đó là phát triển thêm các sản phẩm như trái phiếu xanh, trái phiếu dự án PPP, sàn giao dịch dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp và các công cụ chứng khoán hóa.

Ở phía cầu, ông cho rằng cơ cấu nhà đầu tư cũng cần thay đổi khi hơn 98% trong khoảng 13,5 triệu tài khoản chứng khoán hiện nay là nhà đầu tư cá nhân.

Việc phát triển các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và các định chế đầu tư dài hạn sẽ giúp thị trường ổn định hơn và nâng cao khả năng hấp thụ các đợt huy động vốn quy mô lớn.

Ông Nguyễn Duy Linh đề xuất tập trung vào ba hướng lớn gồm mở cửa thị trường theo hướng thực chất cho nhà đầu tư. Ảnh: HT

Ông Nguyễn Duy Linh đề xuất tập trung vào ba hướng lớn gồm mở cửa thị trường theo hướng thực chất cho nhà đầu tư. Ảnh: HT

Tiếp nối góc nhìn này, ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội cho rằng Việt Nam hiện đã có mục tiêu và hệ thống giải pháp phát triển thị trường vốn khá đầy đủ. Theo ông, trọng tâm giai đoạn tới không còn là bổ sung thêm giải pháp mà là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.

Ông đề xuất tập trung vào ba hướng lớn gồm mở cửa thị trường theo hướng thực chất cho nhà đầu tư nước ngoài, cải thiện cơ cấu ngành nghề trên thị trường chứng khoán và phát triển lực lượng nhà đầu tư tổ chức.

Theo ông, quá trình cổ phần hóa, IPO và niêm yết cần được triển khai có chọn lọc để bổ sung thêm các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, công nghệ, năng lượng, hạ tầng, logistics và các ngành kinh tế mới, qua đó giúp thị trường phản ánh đầy đủ hơn cấu trúc của nền kinh tế.

Muốn duy trì tăng trưởng hai chữ số trong nhiều năm, Việt Nam cần chuyển từ mô hình dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sang một cấu trúc dẫn vốn cân bằng hơn. Trong đó, ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các dòng vốn dài hạn cùng chia sẻ vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Khi cấu trúc đó được hình thành, áp lực lên hệ thống ngân hàng sẽ giảm, doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động vốn và khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tư trong giai đoạn tăng trưởng mới cũng sẽ bền vững hơn.

Nam Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/viet-nam-can-cau-truc-dan-von-moi-cho-tham-vong-tang-truong-d46991.html