Việt Nam: 'Cơ cấu dân số vàng' song xu hướng già hóa nhanh

Theo Kết quả điều tra biến động dân số mà Cục Thống kê vừa công bố, Việt Nam có dân số đông, mật độ dân số cao thứ 3 Đông Nam Á. Đáng chú ý, Việt Nam vẫn ở trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” song xu hướng già hóa đang diễn ra nhanh.

Xu hướng già hóa dân số đang diễn ra nhanh tại Việt Nam. Ảnh: H.THOAN

Xu hướng già hóa dân số đang diễn ra nhanh tại Việt Nam. Ảnh: H.THOAN

Dân số đông và mật độ đứng thứ 3 Đông Nam Á

Quy mô dân số của Việt Nam vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2025 là 102,1 triệu người. Trong đó, 50,9 triệu nam giới, chiếm 49,9% và 51,1 triệu nữ giới, chiếm 50,1%. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và đứng thứ 16 trên thế giới.

Mật độ dân số của Việt Nam năm 2025 là 308 người/km2, tăng 3 người/km2 so với năm 2024. Với kết quả này, Việt Nam cũng là quốc gia có mật độ dân số đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, sau Singapore và Philippines.

Hai địa phương đông dân nhất cả nước là Hà Nội thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng với mật độ dân số là 2.627 người/km2 và Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng Đông Nam Bộ với mật độ dân số là 2.034 người/km2. Tỉnh Lai Châu có mật độ dân số thấp nhất cả nước với 55 người/km2, tiếp theo là Điện Biên với mật độ dân số 70 người/km2.

Vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2025, cả nước có gần 28,2 triệu hộ dân cư, trong đó 11,4 triệu hộ sinh sống ở khu vực thành thị (chiếm 40,6%) và 16,7 triệu hộ ở khu vực nông thôn (chiếm 59,4%). Quy mô hộ bình quân cả nước là 3,6 người/hộ.

Khu vực nông thôn có quy mô bình quân hộ là 3,7 người/hộ, cao hơn khu vực thành thị 0,2 người/hộ. Trung du và miền núi phía Bắc có số người bình quân một hộ lớn nhất cả nước (4,0 người/hộ); Đông Nam Bộ có số người bình quân một hộ thấp nhất cả nước (3,4 người/hộ).

Quy mô hộ bình quân phổ biến trên cả nước là từ 2 đến 4 người/hộ, chiếm 63,2% tổng số hộ. Tỷ lệ hộ chỉ có một người (hộ độc thân) tăng so với năm 2024, trong đó tỷ lệ hộ độc thân ở khu vực thành thị cao hơn so với khu vực nông thôn (16,3% so với 11,5%). Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng là hai vùng có tỷ lệ hộ độc thân cao nhất, tương ứng là 17,5% và 14,5%.

Trung du và miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ là hai vùng có tỷ lệ hộ từ 5 người trở lên cao nhất cả nước, tương ứng là 30,7% và 29,9%. Đây là hai vùng tập trung nhiều người dân tộc thiểu số, có tập quán sinh sống theo gia đình nhiều thế hệ và có mức sinh cao nên có nhiều hộ đông người.

Kết quả điều tra biến động dân số năm 2025 cho thấy, tỷ số giới tính của dân số Việt Nam là 99,6 nam/100 nữ, trong đó, tỷ số giới tính khu vực thành thị là 97,4 nam/100 nữ, khu vực nông thôn là 101,0 nam/100 nữ. Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có tỷ số giới tính cao nhất cả nước, với 101,0 nam/100 nữ; trong khi đó, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ số giới tính thấp nhất, 98,0 nam/100 nữ.

Dân số tập trung đông ở khu vực thành thị. Ảnh: H.THOAN

Dân số tập trung đông ở khu vực thành thị. Ảnh: H.THOAN

Chênh lệch dân cư lớn giữa thành thị và nông thôn

Theo kết quả Điều tra, dân số thành thị là 39,5 triệu người, chiếm 38,7% tổng dân số cả nước, dân số nông thôn là 62,6 triệu người, chiếm 61,3%. Tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam tiếp tục diễn ra chủ yếu do việc di cư dân số từ khu vực nông thôn đến thành thị, tỷ lệ dân số thành thị thời điểm 01/4/2025 tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng thời điểm 2024.

Các chuyên gia thống kê chỉ rõ, có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ dân số thành thị và nông thôn giữa các vùng kinh tế - xã hội cũng như 34 tỉnh, thành phố. Đông Nam Bộ có tỷ lệ dân số thành thị cao nhất cả nước (63,0%), Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ dân số thành thị thấp nhất (23,9%). Các địa phương có tỷ lệ dân số thành thị cao nhất gồm: Thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh (tương ứng lần lượt là 78,3% và 69,0%). Các địa phương có tỷ lệ dân số thành thị thấp nhất cả nước gồm: Hưng Yên, Sơn La và Điện Biên (tỷ lệ lần lượt là 14,1%, 14,3%, 14,5%); chưa đến một nửa cư dân sống tại Thành phố Hà Nội là dân số thành thị (48,9%).

Dân số Việt Nam phân bố không đồng đều giữa các vùng kinh tế - xã hội, trong đó, Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 25,0 triệu người, chiếm 24,5% tổng dân số cả nước; tiếp đến là vùng Đông Nam Bộ với 21,2 triệu người đang sinh sống, chiếm 20,8%. Bắc Trung Bộ là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với 11,3 triệu người, chiếm 11,1% dân số cả nước.

Theo kết quả Điều tra, quy mô dân số nước ta tập trung chủ yếu ở các tỉnh có quy mô dân số từ 1 đến 5 triệu người (28 tỉnh), tiếp đến là nhóm các tỉnh có quy mô dân số nhỏ, dưới 1 triệu người (4 tỉnh).

02 tỉnh, thành phố là Thành phố Hồ Chí Minh (13,8 triệu người) và Hà Nội (8,8 triệu người) có quy mô dân số lớn nhất cả nước, trong khi Lai Châu (khoảng 500 nghìn người) và Cao Bằng (khoảng 560 nghìn người) có quy mô dân số nhỏ nhất cả nước. Chênh lệch về dân số giữa địa phương đông dân nhất cả nước (Thành phố Hồ Chí Minh) và địa phương ít dân số nhất cả nước (tỉnh Lai Châu) khoảng 27 lần.

Các chuyên gia thống kê phân tích, việc phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương chủ yếu là do điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, tiếp cận việc làm, giáo dục và dịch vụ y tế của một số địa phương có lợi thế hơn hẳn các địa phương khác nên di cư để lựa chọn nơi sinh sống phù hợp hơn. Điều này làm gia tăng chênh lệch về tăng dân số ở một số địa phương. Sự chênh lệch này chủ yếu do luồng di cư. Người dân tìm đến các vùng có kinh tế phát triển, dịch vụ y tế, giáo dục và việc làm tốt hơn, khiến dân số ở những nơi này vẫn tăng cao dù tỷ lệ sinh thực tế đã giảm xuống dưới mức thay thế từ lâu.

Cùng với tỉnh Lai Châu, Cao Bằng là địa phương ít dân số nhất cả nước. Ảnh: H.THOAN

Cùng với tỉnh Lai Châu, Cao Bằng là địa phương ít dân số nhất cả nước. Ảnh: H.THOAN

Xu hướng giá hóa dân số nhanh

Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi và giới tính không có sự khác biệt ở phần đáy tháp của năm 2025 so với năm 2024, cho thấy mức sinh vẫn duy trì ở mức ổn định. Phần giữa tháp năm 2025, nhóm tuổi 20-24, thu hẹp hơn so với năm 2024 cho thấy tỷ trọng lực lượng thanh niên trẻ của Việt Nam giảm nhẹ, chủ yếu là do mức sinh thấp của giai đoạn 20-25 năm trước, cộng với tác động của yếu tố tử vong. Các nhóm tuổi từ 25-29 trở lên vẫn mở rộng và không có sự biến động nhiều so với tháp năm 2024, điều này cho thấy Việt Nam vẫn duy trì một lực lượng trong độ tuổi lao động dồi dào, là lợi thế lớn trong việc phát triển kinh tế.

Theo một số nghiên cứu của Liên hợp quốc, cơ cấu dân số của một quốc gia được coi là trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng khi nhóm dân số trẻ em (0-14 tuổi) chiếm tỷ trọng thấp hơn 30% và nhóm dân số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) chiếm tỷ trọng thấp hơn 15%. Kết quả Điều tra cho thấy tỷ trọng dân số từ 15-64 tuổi chiếm 67,6%, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi và từ 65 tuổi trở lên chiếm lần lượt là 22,8% và 9,6%.

Như vậy, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ “Cơ cấu dân số vàng” khi mà cứ một người phụ thuộc thì có hai người trong độ tuổi lao động. Tuy vậy, qua hơn một thập kỷ, cơ cấu dân số Việt Nam đang có xu hướng giảm dần tỷ trọng dân số nhóm dân số dưới 15 tuổi và nhóm dân số từ 15-64 tuổi, trong khi, tỷ trọng nhóm dân số già (từ 65 tuổi trở lên) tiếp tục tăng.

Năm 2025, chỉ số già hóa đạt 63,5%, tức là cứ 100 trẻ em dưới 15 tuổi thì có khoảng 63 người già từ 60 tuổi trở lên. Xu hướng già hóa dân số đang diễn ra nhanh tại Việt Nam, nhóm dân số già từ 65 tuổi trở lên liên tục tăng trong những năm qua, từ 7,7% năm 2019 lên 9,3% năm 2024 và 9,6% vào năm 2025./.

H.THOAN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/viet-nam-co-cau-dan-so-vang-song-xu-huong-gia-hoa-nhanh