'Việt Nam có thể trở thành trung tâm sáng tạo sơn mài của thế giới'
HNN - Đó là chia sẻ của diễn giả Cao Xuân Hải CEO & Founder HINOKI TAMASHI Việt Nam. Nhân dịp về Huế dự Tọa đàm 'Hành trình sơn mài Việt Nam từ di sản đến tương lai 1930 - 2030' vừa được tổ chức, ông đã dành thời gian chia sẻ cùng phóng viên Huế ngày nay Cuối tuần câu chuyện thú vị về tiềm năng trở thành trung tâm sáng tạo sơn mài của Việt Nam.

Ông Cao Xuân Hải
Ông Hải bày tỏ: Theo tôi, sơn mài Việt Nam sở hữu một nền tảng đặc biệt hiếm có trên thế giới: Vừa là di sản văn hóa lâu đời, vừa là một chất liệu có khả năng phát triển thành ngành công nghiệp sáng tạo hiện đại.
Trước hết, về tài nguyên và kỹ thuật, Việt Nam có khoảng 400 tấn nhựa sơn tự nhiên mỗi năm - đây là nguồn nguyên liệu bản địa rất quý hiếm. Sơn ta tạo nên độ sâu thị giác, độ bóng và chiều không gian mà các vật liệu khác khó thay thế. Kết hợp với đó là hệ kỹ thuật độc bản gồm khảm trai, vỏ trứng, vàng - bạc, tạo nên ngôn ngữ thẩm mỹ riêng biệt.
Thứ hai, về lực lượng sản xuất, Việt Nam có hệ thống làng nghề truyền thống trải dài từ Bắc vào Nam như Hạ Thái, Tương Bình Hiệp… với lực lượng nghệ nhân đông đảo và chi phí lao động cạnh tranh.
Thứ ba, về giá trị nghệ thuật, sơn mài Việt Nam không chỉ dừng ở thủ công mỹ nghệ mà đã phát triển thành một dòng hội họa độc lập từ thời Trường Mỹ thuật Đông Dương, tạo nên bản sắc riêng trong mỹ thuật thế giới.
Quan trọng hơn, nếu nhìn dưới góc độ kinh tế, sơn mài không chỉ là “di sản” mà đang là một ngành vật liệu và thiết kế toàn cầu, với quy mô tăng trưởng ổn định (tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khoảng 5,5%). Vì vậy, lợi thế cạnh tranh cốt lõi của Việt Nam nằm ở 5 yếu tố, gồm: Vật liệu tự nhiên độc bản; kỹ thuật truyền thống; ngôn ngữ nghệ thuật riêng; chi phí cạnh tranh; khả năng mở rộng sang nhiều ngành.
Vậy, với tiềm năng lớn và lợi thế của sơn mài Việt Nam, chúng ta đang ở đâu trên “bản đồ sơn mài thế giới”, thưa ông?
Dù có tiềm năng lớn như vậy, nhưng quan sát thực tế, tôi thấy một nghịch lý rất rõ: Việt Nam vẫn đang là một “người khổng lồ ngủ quên”. Khi nhìn ra thế giới, chúng ta thấy Trung Quốc rất mạnh về quy mô sản xuất, Nhật Bản định vị thành công phân khúc xa xỉ, Hàn Quốc kết hợp nhuần nhuyễn thiết kế với văn hóa đại chúng, còn Myanmar lại gắn chặt sơn mài với du lịch. Trong khi đó, chúng ta vẫn đang chủ yếu dừng ở mức sản xuất thủ công nhỏ lẻ và manh mún, xuất khẩu hàng hóa giá trị thấp. Chúng ta đang thiếu đi những dữ liệu thị trường rõ ràng, thiếu một thương hiệu quốc gia đủ mạnh và một chuỗi giá trị hoàn chỉnh để có được vị thế tương xứng trên bản đồ quốc tế.
Cần có chiến lược và kế hoạch cụ thể thế nào để đưa sơn mài Việt Nam đi xa theo slogan mà ông đặt ra “Make Local, Go Global” (tạm dịch “Sản xuất tại địa phương, vươn ra toàn cầu”, thưa ông?
Để hiện thực hóa slogan “Make Local, Go Global”, tôi cho rằng chiến lược cốt lõi không phải chỉ là “xuất khẩu sản phẩm” đơn thuần, mà chúng ta phải xuất khẩu cả giá trị và hệ sinh thái. Theo tôi, chúng ta cần triển khai theo bốn trụ cột chính: Xây dựng thương hiệu quốc gia để định vị nghệ thuật sơn mài Việt Nam như một chuẩn mực toàn cầu; phát triển hệ sinh thái kết nối nghệ nhân với các nhà thiết kế và kiến trúc sư; xây dựng chuỗi giá trị tập trung vào các nhóm mũi nhọn như nội thất xa xỉ, thời trang hay quà tặng doanh nghiệp; và cuối cùng là đẩy mạnh kinh tế trải nghiệm.
Với tôi ,“Made Local” là phát triển việc kinh doanh sản xuất mạnh mẽ hơn tại Việt Nam nói chung và tại TP. Huế nói riêng nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng thương hiệu “made in Vietnam & Hue”. Chọn lọc những dòng sản phẩm phù hợp với thế mạnh của từng địa phương và của Huế để đẩy mạnh phát triển kinh doanh các lĩnh vực ứng dụng sơn mài.
“Go Global” là tầm nhìn vươn ra thế giới, phải tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có thể bán được cho khách quốc tế đến Việt Nam và xuất khẩu ra thế giới theo lộ trình hoạch định. Ngoài ra, cần đưa lĩnh vực sơn mài Việt Nam mở rộng phạm vi ứng dụng mỹ thuật sơn mài và hòa nhập cùng dòng chảy của thế giới.

Một số sản phẩm ứng dụng sơn mài mỹ thuật sản xuất tại nhà máy Bình Dương đã được xuất khẩu ra thế giới
Theo ông, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm sơn mài thế giới?
Tôi nhận thấy điều này là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên, hành trình đưa Việt Nam trở thành trung tâm sơn mài thế giới sẽ gặp không ít trở ngại. Tôi tạm thời chia thành ba nhóm thách thức chính. Thứ nhất, cấu trúc ngành của chúng ta còn yếu, sản xuất còn nhỏ lẻ và thiếu liên kết chuỗi. Thứ hai, chúng ta đang thiếu hụt sự sáng tạo hiện đại khi đội ngũ thiết kế chưa đủ mạnh để tạo ra các sản phẩm phù hợp với gu thẩm mỹ quốc tế. Cuối cùng, theo tôi, chúng ta vẫn thiếu một chiến lược tổng thể và định hướng quốc gia với những khoản đầu tư dài hạn. Đây không chỉ là câu chuyện của nghệ thuật, mà là bài toán về công nghiệp văn hóa mà chúng ta cần cùng nhau giải quyết.
Thương mại hóa sơn mài làm sao để vừa phát triển vừa giữ được bản sắc Việt Nam hẳn cũng là một câu chuyện dài?
Đúng vậy! Và theo tôi, để thương mại hóa sơn mài cốt lõi nằm ở việc chúng ta phải phân tách rõ ba tầng giá trị. Đầu tiên là tầng di sản với các kỹ thuật và quy trình truyền thống cần được chúng ta bảo tồn nguyên bản. Tiếp đến là tầng thiết kế đóng vai trò là chiếc cầu nối để chuyển ngữ di sản sang ngôn ngữ hiện đại. Và cuối cùng là tầng thị trường để đưa sơn mài vào phong cách sống đương đại. Tôi tin rằng nếu không có thiết kế, di sản của chúng ta sẽ bị “đóng khung”, nhưng nếu không giữ được tầng di sản, sản phẩm sẽ “mất hồn”. Vì vậy, chúng ta phải giữ vững cái lõi và không ngừng đổi mới ở phần ứng dụng. Ứng dụng vào lifestyle (phong cách sống), interior (nội thất), fashion (thời trang).
Ý tưởng gắn kết sơn mài Việt với ngành du lịch và kinh tế trải nghiệm mà ông đưa ra tại tọa đàm lần này rất thú vị. Là người đã đi nhiều nơi trên thế giới, ông có thể chia sẻ kinh nghiệm các nước đã làm và gợi ý về cách làm phù hợp để biến ý tưởng này thành hiện thực?
Dựa trên kinh nghiệm từ những chuyến đi thực tế, tôi thấy các quốc gia như Nhật Bản, Myanmar hay Hàn Quốc đã làm rất tốt việc biến thủ công thành trải nghiệm văn hóa. Điểm chung là họ không bán sản phẩm, mà họ bán câu chuyện và sự trải nghiệm. Theo tôi, Việt Nam hoàn toàn có thể triển khai các mô hình làng nghề trải nghiệm, không gian trưng bày kể chuyện di sản, các workshop đào tạo hoặc kết hợp với các khu resort để biến sơn mài thành một phần của trải nghiệm lưu trú cao cấp. Đây chính là mô hình kinh tế trải nghiệm văn hóa mà chúng ta nên hướng tới.
Vậy với riêng Huế, ông có đề xuất gì?
Tôi cho rằng Huế có lợi thế đặc biệt khi di sản, văn hóa, du lịch và nghệ thuật hội tụ rất mạnh mẽ. Tôi đề xuất chúng ta nên phát triển ba mô hình trọng điểm: Một trung tâm sáng tạo làm “bộ não” của ngành; hai là mô hình làng nghề kết hợp du lịch trải nghiệm quy mô để tạo giá trị kinh tế trực tiếp và một bảo tàng sơn mài để lưu giữ linh hồn di sản. Theo tôi, Huế hoàn toàn có thể học hỏi kinh nghiệm từ Kyoto trong việc giữ bản sắc nhưng vẫn hiện đại hóa để biến di sản thành kinh tế. Huế có đủ điều kiện để trở thành một “Kyoto của Việt Nam” trong lĩnh vực này.











