Việt Nam 'cửa ngõ' chiến lược thúc đẩy tăng trưởng tại Đông Nam Á
Việt Nam đang là “cửa ngõ” quan trọng trong mạng lưới sản xuất công nghiệp và thương mại tại khu vực Đông Nam Á, khi được nhiều chuyên gia và doanh nghiệp đánh giá giữ vai trò là đối tác chiến lược thúc đẩy tăng trưởng chất lượng.

Dây chuyền tại Nhà máy sản xuất thông minh Yadea Việt Nam với quy mô đầu tư hơn 100 triệu USD tại Khu công nghiệp Tân Hưng, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Danh Lam/TTXVN
Đồng thời, Việt Nam cũng cho thấy tiềm năng phát triển nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của mạng lưới nhà cung ứng nội địa thông qua kết nối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mà đây lại là những yếu tố then chốt để thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, thương mại bền vững.
Ghi nhận ý kiến doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh cho hay, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu không ngừng thay đổi và cạnh tranh ngày càng gay gắt, cả nhà đầu tư và doanh nghiệp sản xuất đều chuyển dịch từ tăng trưởng dựa trên sản lượng sang tăng trưởng dựa trên giá trị, tập trung vào tự động hóa, đổi mới sáng tạo và phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng cao (HVA). Song song đó, các quốc gia Đông Nam Á chuyển hóa dòng vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng thành năng lực công nghiệp mạnh mẽ hơn, thúc đẩy tiến bộ công nghệ và tạo ra giá trị kinh tế cao hơn.
Với thực tế này, không chỉ doanh nghiệp Việt Nam, mà doanh nghiệp FDI cũng có cơ hội tham quan tiến trình nâng cao năng lực công nghiệp của Việt Nam thông qua công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng cường hợp tác với cộng đồng doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là chất xúc tác thu hút dòng vốn FDI tiếp tục đầu tư vào công nghệ tiên tiến, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực tại thị trường nội địa Việt Nam nói riêng, đóng góp vào tăng trưởng bền vững của toàn khu vực Đông Nam Á nói chung.
Cụ thể, ông Thammasak Sethaudom, Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Tập đoàn SCG (Thái Lan) cho biết, giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của công nghiệp khu vực Đông Nam Á sẽ phụ thuộc vào khả năng kết nối hiệu quả và phát huy thế mạnh của từng thị trường, đồng thời tạo ra giá trị cao hơn thông qua đổi mới sáng tạo. Do đó, SCG đã và đang tăng cường liên kết mạng lưới sản xuất trong khu vực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và phát triển đa dạng sản phẩm giá trị gia tăng cao nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trọng tâm của chiến lược này, là cách tiếp cận tối ưu hóa nguồn lực khu vực (Regional Optimization) dựa trên khái niệm “Sức mạnh cộng hưởng ASEAN” (ASEAN Synergy). Trong đó, SCG tận dụng thế mạnh bổ trợ của các quốc gia Đông Nam Á thông qua tăng cường liên kết khu vực, chia sẻ công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hợp tác chuỗi cung ứng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh chung.
Ông Thammasak Sethaudom thông tin thêm, với hơn ba thập kỷ hoạt động tại Việt Nam, SCG đang đẩy mạnh hàng loạt khoản đầu tư nâng cao khả năng thích ứng và chống chịu trong vận hành, mở rộng sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao và thúc đẩy sản xuất bền vững. Cụ thể, tháng 5/2026 vừa qua, doanh nghiệp đã công bố khoản đầu tư 604 tỷ đồng, mở rộng năng lực sản xuất bao bì chất lượng cao tại TP. Hồ Chí Minh, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và chuỗi cung ứng tích hợp.
Trong khi đó, Đông Nam Á cũng là thị trường tiềm năng cho doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuyên biên giới nhờ liên kết thương mại, công nghiệp và chuỗi cung ứng trong khu vực. Tuy nhiên, xây dựng thương hiệu tại khu vực này đòi hỏi cả doanh nghiệp FDI, chứ không riêng gì doanh nghiệp Việt Nam phải thích ứng với những khác biệt về văn hóa, hành vi tiêu dùng và môi trường truyền thông ở từng quốc gia.
Về phía doanh nghiệp, bà Tô Nguyễn Bích Ngọc – Trưởng Bộ phận vận hành RuNam (chuỗi nhà hàng, cà phê thuộc Công ty CP NISO, Việt Nam) tại Campuchia cho rằng, dù gần gũi về địa lý nhưng Việt Nam và Campuchia vẫn có những khác biệt về thói quen tiêu dùng, cũng như kỳ vọng của khách hàng. Qua quá trình vận hành RuNam có thể nhận diện, khách hàng tại Campuchia mong muốn thưởng thức hương vị Việt nguyên bản trong một không gian ẩm thực sang trọng, với dịch vụ tương xứng.
Vì vậy, RuNam chú trọng đồng bộ từ món ăn, không gian đến chất lượng phục vụ, đồng thời cân nhắc sức mua địa phương để có những điều chỉnh phù hợp. Ngoài ra, với doanh nghiệp Việt Nam, hiểu biết bản địa là cơ sở để lựa chọn thị trường ưu tiên, phân bổ nguồn lực và từng bước xây dựng niềm tin với khách hàng.
Ông Terauchi Mikito, Giám đốc điều hành OJI Holdings Corporation, Nhật Bản (Tập đoàn hàng đầu thế giới về giấy, bao bì và quản lý tài nguyên rừng) phân tích, Việt Nam là thị trường quan trọng và ngày càng trở thành điểm sản xuất chiến lược tại Đông Nam Á, nên việc đầu tư vào sản xuất tại chỗ sẽ giúp doanh nghiệp phục vụ khách hàng tốt hơn tại Việt Nam, cũng như mở rộng trên toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ngoài ra, Việt Nam ngày càng khẳng định được sức hút là điểm đến của các dự án sản xuất công nghiệp chất lượng cao và dài hạn đối với doanh nghiệp FDI, trong khi doanh nghiệp nội địa không chỉ chen chân vào chuỗi cung ứng khu vực, mà còn không ngừng mở rộng thị trường, khẳng định thương hiệu tại thị trường Đông Nam Á.
Cùng với chất lượng sản phẩm và khả năng phân phối, một số chuyên gia nhấn mạnh, cách truyền tải giá trị thương hiệu phù hợp với người tiêu dùng bản địa là yếu tố cần được chú trọng. Từ những góc nhìn thị trường đến kinh nghiệm vận hành thực tế tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á còn cho thấy doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu gắn kế hoạch mở rộng sản xuất, kinh doanh với chiến lược xây dựng thương hiệu ngay từ bước chuẩn bị.
Theo ông Ferdinand L. Bondoy, Chủ tịch liên khu vực, Tổng Giám đốc COMCO Southeast Asia, đồng sáng lập SEA CAN Alliance (Liên minh Mạng lưới các Công ty Truyền thông Đông Nam Á), tiến ra khu vực là một hành trình nhiều thử thách nhưng đầy hứa hẹn, nên doanh nghiệp vừa cần một định hướng thương hiệu nhất quán, vừa đảm bảo cách triển khai tại mỗi thị trường xuất phát từ thực tế địa phương. Điều quan trọng hơn nữa là doanh nghiệp nên xác định những giá trị phải giữ vững và yếu tố điều chỉnh đối với từng thị trường như kết nối với mạng lưới chuyên gia trong khu vực để cùng giải quyết bài toán từ lựa chọn thông điệp đến cách tiếp cận khách hàng.
Liên quan đến thúc đẩy tăng trưởng chất lượng, ông Bùi Minh Thạnh, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đối Việt Nam nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng thì yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút thêm vốn hay mở rộng thương mại, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành năng lực nội sinh và sức cạnh tranh bền vững. Vì vậy, hợp tác với các quốc gia và quốc tế mở ra nhiều cơ hội chiến lược đối với TP. Hồ Chí Minh.
Phó Chủ tịch Thạnh chỉ ra rằng, thế mạnh của các quốc gia là về công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững,… có thể bổ trợ thiết thực cho các ưu tiên phát triển của TP. Hồ Chí Minh. Do đó, thành phố mong muốn quan hệ hợp tác hai chiều và bổ trợ, với doanh nghiệp các nước mở rộng đầu tư, nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam; ngược lại doanh nghiệp Việt Nam từng bước tiếp cận chương trình hợp tác và dự án cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực, lâu dài cho các bên.

