Việt Nam đạt nhiều thành tựu về nhân quyền sau 80 năm độc lập
Tại Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được tôn trọng, bảo vệ.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong Bản Tuyên ngôn Độc lập, Người đã nhấn mạnh quyền con người, quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Từ đó đến nay, tại Việt Nam quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được tôn trọng, bảo vệ.
Nhân kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2-9, phóng viên Báo Hànôịmới đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Tường Duy Kiên, Viện trưởng Viện Quyền con người (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) về nội dung này.

PGS.TS Tường Duy Kiên, Viện trưởng Viện Quyền con người (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
Quyền con người trở thành quyền dân tộc - quyền độc lập
- Xin ông cho biết, quyền con người được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định như thế nào trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa?
- Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền con người của dân tộc Việt Nam bằng một tầm nhìn thiên tài, đặt vấn đề nhân quyền của dân tộc ta trong dòng chảy phát triển tư tưởng nhân loại. Người không chỉ trích dẫn mà còn sáng tạo, phát triển những giá trị xuyên thế kỷ về quyền con người.
Nếu nhìn lại lịch sử tư tưởng, chúng ta thấy có sự tiến triển rõ rệt. Cụ thể, thế kỷ XVII, triết gia John Locke (1632-1704) trong tác phẩm “Hai luận thuyết về chính phủ” đã đặt nền móng với bộ ba quyền tự nhiên bất khả xâm phạm: Quyền sống, quyền tự do và quyền tư hữu tài sản.
Sang thế kỷ XVIII, Thomas Jefferson - tác giả của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1776 đã phát triển tư tưởng này khi thay thế “quyền tư hữu tài sản” bằng “quyền mưu cầu hạnh phúc”, mở rộng nhân quyền từ lĩnh vực sở hữu vật chất sang khát vọng về một đời sống viên mãn cả về tinh thần.
Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thêm một bước, với một diễn đạt vừa gần gũi, vừa mang tầm vóc mới “quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Cách dùng từ “sung sướng” ở đây mang hàm ý sâu sắc hơn “mưu cầu hạnh phúc”, không chỉ là quá trình tìm kiếm mà còn là quyền được hưởng thụ hạnh phúc, được sống một đời sống đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần.
Điểm khẳng định này không phải là lý thuyết trừu tượng. Nó vang lên trong một bối cảnh bi thảm khi dân tộc Việt Nam vừa trải qua nạn đói 1944-1945 cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu đồng bào, trong khi hơn 95% dân số vẫn mù chữ. Trong tình cảnh ấy, “quyền được sống” và “quyền sung sướng” không chỉ là lý tưởng mà trở thành những yêu cầu cấp bách, cụ thể, thiêng liêng.
Đặc biệt, Tuyên ngôn Độc lập đã nâng quyền con người lên một tầm cao mới khi gắn kết quyền cá nhân với quyền dân tộc. Từ luận điểm: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển, khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Như vậy, quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân mà còn mở rộng thành quyền dân tộc - quyền độc lập, tự do, bình đẳng của mọi dân tộc trên thế giới. Đây chính là điểm độc đáo, thể hiện giá trị thời đại và tầm vóc phổ quát của Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam, đó cũng chính là bản Tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam.
- Vậy, những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực quyền con người, căn cứ vào các chuẩn mực của Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người, Việt Nam đã đạt được như thế nào sau 80 năm qua, thưa ông?
- Để đánh giá đầy đủ thành tựu nhân quyền của Việt Nam, cần nhìn lại điểm xuất phát gần như bằng không cách đây hơn 80 năm. Từ một dân tộc vừa thoát khỏi thảm họa nạn đói và nạn mù chữ, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trong việc bảo đảm quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực của Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua năm 1948.
Thứ nhất, bảo đảm quyền được sống và quyền phát triển trong hòa bình. Nếu như năm 1945, nạn đói cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người thì hiện nay Việt Nam đã vững vàng trong bảo đảm an ninh lương thực và trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Từ tỷ lệ mù chữ trên 95%, đến nay đất nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục cơ bản và đang hướng tới xây dựng xã hội học tập.
Theo Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), năm 2023, Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt 0,726, thuộc nhóm quốc gia có HDI cao, xếp 107/193 nước và vùng lãnh thổ. Các trụ cột phát triển thể hiện rõ qua tuổi thọ trung bình đạt 74,5 tuổi (2023); số năm đi học bình quân của người trưởng thành đạt 9,6 năm (2024); tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc tiểu học đạt 98,7%; từ năm học 2025-2026, giáo dục mầm non và phổ thông sẽ được miễn học phí. Về thu nhập, Tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người từ mức 98 USD năm 1990 đã tăng lên 390 USD năm 2000 và dự kiến trên 4.750 USD trong năm 2025, đưa Việt Nam vượt ngưỡng thu nhập trung bình thấp.
Thứ hai, hệ thống an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện. Trong đó, lưới an sinh được mở rộng, bảo đảm quyền của các nhóm yếu thế khi hơn 94% dân số có thẻ bảo hiểm y tế, 100% hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được Nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế. Các chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ học tập giúp trẻ em nghèo được đến trường. Cùng với đó, hàng triệu hộ nghèo được hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở. Hàng triệu hộ nghèo và đối tượng chính sách khác được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo bền vững.
Thứ ba, các quyền dân sự, chính trị và kinh tế được củng cố mạnh mẽ. Việt Nam không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó quyền tài sản, quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh được công nhận, khuyến khích và bảo vệ. Đây là bước tiến quan trọng, thể hiện sự cụ thể hóa các quyền cơ bản được Tuyên ngôn 1948 khẳng định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quyền con người.
Người dân luôn ở vị trí trung tâm của phát triển
- Với những thành tựu nổi bật đó, trong suốt 80 năm qua, cộng đồng quốc tế nhìn nhận và đánh giá như thế nào về vấn đề quyền con người tại Việt Nam, thưa ông?
- Thời gian qua, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, đặc biệt là các cơ quan thuộc Liên hợp quốc đã ghi nhận và đánh giá cao những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, nhất là các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Những kết quả tiêu biểu có thể kể đến như công tác xóa đói, giảm nghèo tại Việt Nam.
Cụ thể, Việt Nam được coi là hình mẫu thành công toàn cầu trong lĩnh vực này. Theo UNDP, Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước thời hạn và nằm trong nhóm 25 quốc gia giảm một nửa chỉ số nghèo đa chiều (MPI) trong vòng 15 năm.
Theo cách nhìn chung, cộng đồng quốc tế cho rằng, việc bảo đảm để người dân có cuộc sống ấm no, được tiếp cận các dịch vụ cơ bản chính là hình thức thiết thực nhất của bảo đảm quyền con người. Việt Nam cũng thường xuyên nhấn mạnh cách tiếp cận này tại các diễn đàn quốc tế.
Đặc biệt, Việt Nam đã hai lần được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (2014-2016 và 2023-2025). Việc tham gia này được nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, coi đây là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu nhân quyền của Việt Nam.
- Theo ông, để tiếp tục thúc đẩy và bảo đảm quyền con người trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chúng ta cần phải làm gì?
- Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một quốc gia hùng cường, thịnh vượng, nơi người dân được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, theo tôi, chúng ta cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đó, cần có hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi, minh bạch, bảo đảm quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và thực thi hiệu quả. Đồng thời, cải cách tư pháp, cải cách hành chính phải được đẩy mạnh để người dân dễ dàng tiếp cận công lý công bằng.
Muốn vậy, chúng ta cần xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp; đồng thời tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, kiên quyết chống tham nhũng, quan liêu - những rào cản trực tiếp đối với quyền con người.
Đặc biệt yêu cầu xóa bỏ triệt để tư duy “không quản được thì cấm, không biết mà vẫn quản” và thực hiện thật tốt quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm “không được để một số điều luật cản trở thực hiện quyền con người, quyền công dân; cản trở phát triển kinh tế - xã hội”; “pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải phát huy dân chủ, vì con người, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người”.
Thứ hai, triển khai hiệu quả “bộ tứ phát triển đất nước” nhằm tạo nguồn lực vật chất vững chắc cho bảo đảm quyền con người, gồm: Phát triển kinh tế tư nhân, bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Đồng thời, đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, trong đó tiếp thu kinh nghiệm tốt của quốc tế, các nước phát triển trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Trong đó, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực bứt phá, đồng thời cần quan tâm tìm các giải pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực của chính cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số đối với quyền con người.
Thứ ba, luôn đặt người dân ở vị trí trung tâm của phát triển. Mọi chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; bảo đảm quyền tham gia thực chất và quyền thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới, thành quả của sự phát triển.
Thứ tư, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức xã hội về quyền con người. Tiếp tục triển khai và thực hiện hiệu quả đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ, xây dựng xã hội công dân, xã hội pháp quyền, đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Khi người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, còn cán bộ, công chức nhà nước ý thức sâu sắc trách nhiệm phục vụ nhân dân, thì quyền con người sẽ được bảo đảm bền vững nhất.
Tất cả những nỗ lực đó đều hướng tới một mục tiêu, đó là đặt con người vào vị trí trung tâm, để mỗi người dân vừa là chủ thể, vừa là người thụ hưởng thành quả phát triển. Đồng thời, làm cho những giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 ngày càng được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày.
- Trân trọng cảm ơn ông!