Việt Nam đầu tư ra nước ngoài hơn 2,6 tỷ USD trong 8 tháng
Trong 8 tháng đầu năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã rót hơn 2,6 tỷ USD ra nước ngoài với 113 dự án mới và 29 lượt dự án điều chỉnh vốn. Lào tiếp tục là thị trường nhận vốn lớn nhất, trong khi Ấn Độ và Indonesia vươn lên nhóm ba địa bàn thu hút nhiều vốn Việt Nam nhất từ đầu năm.
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục ghi nhận quy mô đáng kể trong 8 tháng đầu năm 2026. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư Việt Nam đã thực hiện 113 dự án mới và 29 lượt điều chỉnh vốn tại các dự án đang hoạt động, đưa tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trong giai đoạn này lên trên 2,6 tỷ USD.
Dòng vốn của doanh nghiệp Việt Nam được phân bổ vào 15 ngành, nhưng tập trung khá rõ ở ba lĩnh vực. Vận tải, kho bãi dẫn đầu với hơn 601,6 triệu USD, chiếm 23% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trong 8 tháng. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt đứng kế tiếp với trên 585,8 triệu USD, tương đương 22,4%. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ ba với hơn 516,6 triệu USD, chiếm 19,7%.

Hiện các nhà đầu tư Việt Nam đã rót vốn vào 35 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tính chung, ba lĩnh vực dẫn đầu đã chiếm hơn 65% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trong 8 tháng. Cơ cấu này cho thấy dòng vốn mới đang tập trung mạnh vào vận tải, hạ tầng năng lượng và nông nghiệp. Đây cũng là điểm khá khác so với cơ cấu vốn lũy kế của các dự án Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài, nơi khai khoáng vẫn giữ vị trí dẫn đầu.
Xét theo địa bàn, các nhà đầu tư Việt Nam đã rót vốn vào 35 quốc gia và vùng lãnh thổ từ đầu năm đến hết tháng 8. Lào tiếp tục đứng đầu với hơn 486,5 triệu USD, chiếm 18,6% tổng vốn đầu tư. Đáng chú ý, Ấn Độ đứng thứ hai với trên 323,8 triệu USD, chiếm 12,4%, trong khi Indonesia xếp thứ ba với hơn 313,6 triệu USD, tương đương 12%.
Sự hiện diện của Ấn Độ và Indonesia trong nhóm dẫn đầu tạo thêm điểm nhấn cho bức tranh đầu tư ra nước ngoài năm nay. Nếu Lào từ lâu là thị trường quan trọng của doanh nghiệp Việt Nam thì quy mô vốn vào Ấn Độ và Indonesia trong 8 tháng đầu năm cho thấy địa bàn đầu tư đang có thêm những hướng mở tại các nền kinh tế lớn ở châu Á.
Ở góc nhìn dài hạn, quy mô đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã vượt xa con số phát sinh riêng trong năm nay. Tính đến hết tháng 8/2026, Việt Nam có 2.080 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn trên 26,4 tỷ USD.
Các dự án này trải rộng ở 18 trong tổng số 22 ngành của nền kinh tế. Khai khoáng hiện chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất với trên 7 tỷ USD, tương đương 27% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ hai với hơn 3,9 tỷ USD, chiếm khoảng 15%. Thông tin và truyền thông đứng thứ ba với hơn 2,9 tỷ USD, tương đương 11%.
So với cơ cấu lũy kế này, dòng vốn phát sinh trong 8 tháng đầu năm 2026 đang thể hiện sự dịch chuyển đáng chú ý. Khai khoáng vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư ra nước ngoài qua nhiều năm nhưng không nằm trong nhóm ba lĩnh vực hút vốn nhiều nhất từ đầu năm. Thay vào đó, vận tải, kho bãi cùng sản xuất và phân phối điện, khí đốt đã vươn lên hai vị trí đầu.
Địa bàn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam cũng ngày càng rộng. Tính đến cuối tháng 8/2026, các dự án của Việt Nam đã hiện diện tại 88 quốc gia và vùng lãnh thổ. Lào giữ vị trí số một với tổng vốn trên 7 tỷ USD, chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Campuchia đứng thứ hai với hơn 3,3 tỷ USD, chiếm 12,8%, tiếp đến là Venezuela với trên 1,8 tỷ USD, tương đương 6,9%.
Như vậy, Lào vẫn là địa bàn lớn nhất của dòng vốn Việt Nam cả xét trong 8 tháng đầu năm lẫn quy mô lũy kế. Tuy nhiên, danh sách những thị trường nhận vốn lớn trong năm 2026 đã có thêm các gương mặt đáng chú ý. Việc Ấn Độ và Indonesia cùng nằm trong nhóm ba thị trường dẫn đầu cho thấy phạm vi đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam đang mở rộng hơn tại châu Á.
Với hơn 2,6 tỷ USD được đầu tư ra nước ngoài chỉ trong 8 tháng, quy mô vốn phát sinh năm nay đã tương đương khoảng 10% tổng vốn của toàn bộ các dự án còn hiệu lực tích lũy qua nhiều năm. Bức tranh này cũng cho thấy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đang tiếp tục mở rộng cả về lĩnh vực lẫn địa bàn, trong đó dòng vốn mới có xu hướng tập trung rõ hơn vào vận tải, năng lượng và các thị trường châu Á.



