Việt Nam lên hạng 43 về đổi mới sáng tạo toàn cầu: Hai chỉ số đứng đầu thế giới

Chiều 29/9, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố Báo cáo GII 2026, ghi nhận Việt Nam tăng lên vị trí 43/139 nền kinh tế và tiếp tục dẫn đầu toàn cầu ở hai chỉ số xuất khẩu, qua đó hoàn thành mục tiêu của Chính phủ tại Nghị quyết 02.

Đây là thành quả của một hành trình thăng tiến bền bỉ kéo dài một thập niên. Kể từ năm 2016, thứ hạng GII của Việt Nam đã tăng tổng cộng 16 bậc, từ vị trí 59 lên 43. Trong nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình thấp, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí thứ hai, chỉ xếp sau Ấn Độ (đứng thứ 38).

Ảnh minh họa - Ảnh: AI.

Ảnh minh họa - Ảnh: AI.

Nếu nhìn rộng hơn vào danh sách các nền kinh tế xếp trên Việt Nam, ngoại trừ Trung Quốc (hạng 10) và Malaysia (hạng 34) thuộc nhóm thu nhập trung bình cao, tất cả các quốc gia còn lại đều thuộc nhóm có thu nhập cao.

Tại Việt Nam, bộ chỉ số đánh giá toàn diện từ điều kiện đầu vào (thể chế, nhân lực, hạ tầng) đến đầu ra (tri thức, công nghệ, sản phẩm) này luôn được Chính phủ xem là một công cụ quản lý và điều hành quan trọng, giao Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương.

Điểm sáng lớn nhất và mang tính quyết định trong bức tranh GII năm nay của Việt Nam là sự bứt phá mạnh mẽ ở các chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo khi tăng hai bậc, từ vị trí 37 vươn lên 35. Trong đó, riêng trụ cột sản phẩm tri thức và công nghệ đã nhảy vọt bốn bậc, từ hạng 39 lên 35. Đặc biệt, Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại.

Bên cạnh hai chỉ số giữ ngôi vương, Việt Nam còn góp mặt trong nhóm 10 nền kinh tế dẫn đầu toàn cầu ở ba chỉ số thiết yếu khác: tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao (xếp thứ 3), số lượng ứng dụng điện thoại thông minh được phát triển và sử dụng (xếp thứ 5), và tốc độ tăng năng suất lao động (xếp thứ 6).

Sự cải thiện cũng được ghi nhận ở một loạt chỉ số vĩ mô quan trọng khác khi tỷ lệ chi nghiên cứu và phát triển (R&D) do doanh nghiệp trang trải vươn lên đứng thứ 13 toàn cầu. Theo sau là tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân (hạng 14), mức thuế bình quân gia quyền (hạng 15), tổng tư bản hình thành và mức độ đa dạng của sản xuất trong nước cùng đứng thứ 19.

Đánh giá về bước tiến này, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhận định việc đầu ra đổi mới sáng tạo tăng hạng là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy những chính sách và nguồn lực dành cho lĩnh vực này đã bước đầu phát huy hiệu quả.

Thành tựu trên bắt nguồn từ tinh thần triển khai Nghị quyết 57 hết sức quyết liệt trong hơn một năm qua. Nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có sự gia tăng mạnh mẽ, song hành với hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện.

Sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học đã tạo nên một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo vững chắc. Quả ngọt của quá trình này là sự xuất hiện của ba doanh nghiệp "kỳ lân" có định giá hàng tỷ USD cùng hàng loạt startup chuyên sâu trong lĩnh vực khoa học.

Đáng chú ý, cách tiếp cận trong quản lý khoa học công nghệ nay đã được chuyển dịch linh hoạt: từ việc chỉ chú trọng đầu vào sang quản lý theo kết quả, hướng đến hiệu quả thực chất. Nguồn lực quốc gia đang được ưu tiên rót vào nghiên cứu, công nghệ cao, công nghệ chiến lược và những lĩnh vực có sức ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển chung của đất nước.

Nhờ định hướng đó, hàng loạt chỉ số thành phần ở cả nhóm đầu vào lẫn đầu ra đều có sự cải thiện đáng kể. Ở nhóm đầu vào, khả năng truy cập công nghệ thông tin và truyền thông tăng 11 bậc (lên hạng 66). Nguồn lực tài chính dành cho khởi nghiệp và mở rộng quy mô cũng tăng 6 bậc (lên hạng 44), kéo theo số thương vụ đầu tư mạo hiểm ở vòng sau tăng 2 bậc (lên hạng 40).

Sự gắn kết thực tiễn cũng tốt hơn khi hợp tác nghiên cứu giữa trường đại học và doanh nghiệp tăng 7 bậc (hạng 24) và số nhân viên nghiên cứu trong doanh nghiệp tăng 2 bậc (hạng 49).

Về đầu ra, số đơn đăng ký sáng chế theo nước xuất xứ tăng 3 bậc (hạng 63), sản lượng công nghệ cao tăng 1 bậc (hạng 25), mức độ phức tạp của sản xuất - xuất khẩu tăng 8 bậc (hạng 44). Giá trị thương hiệu toàn cầu và số đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp cũng lần lượt tăng lên các vị trí 28 và 48.

Theo Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Quyết định 604/QĐ-TTg), Việt Nam đặt tham vọng vươn lên nhóm 40 quốc gia dẫn đầu GII vào năm 2030, và tiến xa hơn vào nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới vào năm 2045 theo tầm nhìn của Nghị quyết 57.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ trưởng Vũ Hải Quân thẳng thắn cho rằng Việt Nam còn bề bộn công việc phải làm. Ưu tiên hàng đầu là phải giải quyết bài toán chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực trình độ sau đại học phục vụ các ngành công nghệ chiến lược, đồng thời phải đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế.

Trọng tâm cốt lõi để duy trì và đẩy mạnh năng lực đổi mới sáng tạo chính là khu vực doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đóng vai trò chủ động hơn nữa, mạnh tay rót vốn cả về tài chính lẫn con người để đưa công nghệ, chuyển đổi số vào sâu trong chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chỉ khi doanh nghiệp thực sự "vào cuộc", chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng và năng suất lao động mới có thể cải thiện một cách bền vững.

Về phía cơ quan quản lý, Bộ Khoa học và Công nghệ cam kết sẽ tiếp tục dọn đường bằng việc bám sát thực tiễn để hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đầu tư cho R&D. Đồng thời, Bộ sẽ đóng vai trò nhịp cầu thu hút các tập đoàn quốc tế mở trung tâm nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp công nghệ, hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo, từ đó giúp nền kinh tế hấp thụ tri thức và làm chủ công nghệ vươn tầm thế giới.

Phùng Thọ

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/viet-nam-len-hang-43-ve-doi-moi-sang-tao-toan-cau-hai-chi-so-dung-dau-the-gioi-post362300.html