Việt Nam - Nhật Bản tăng cường hợp tác ứng phó xói lở bờ biển
Việt Nam và Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ và giải pháp bảo vệ bờ biển, ứng phó với xói lở trong bối cảnh thiên tai và biến đổi vùng ven bờ.
Sáng 24/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (MLIT) tổ chức Hội thảo Đối thoại Hợp tác Quản lý thiên tai Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 14, với chủ đề “Công nghệ ứng phó với thiên tai liên quan đến nước và ven biển - Các giải pháp chống xói lở bờ biển”. Hội thảo tập trung trao đổi về thực trạng, nguyên nhân xói lở bờ biển tại Việt Nam, kinh nghiệm của Nhật Bản và các giải pháp bảo vệ bờ biển.

Ông Nguyễn Trường Sơn và ông Taizo Ida trao quà lưu niệm, ghi dấu hoạt động giao lưu, hợp tác giữa cơ quan quản lý thiên tai Việt Nam - Nhật Bản. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN
Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Trường Sơn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, cho biết Hội thảo lần thứ 14 là một dấu mốc trong quá trình hợp tác Việt Nam - Nhật Bản về phòng, chống thiên tai. Qua 14 năm, cơ chế Đối thoại đã trở thành diễn đàn để hai bên chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, công nghệ và trao đổi về những vấn đề thực tiễn trong quản lý rủi ro thiên tai.
Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài, nhiều khu vực chịu tác động của thiên tai và các quá trình biến đổi vùng ven bờ. Xói lở bờ biển đang đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với công tác quản lý, bảo vệ bờ biển, dân cư, cơ sở hạ tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội. Đây là vấn đề phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố tự nhiên và con người, do đó cần đánh giá đúng hiện trạng, nguyên nhân và lựa chọn giải pháp phù hợp với đặc điểm từng khu vực.

Ông Nguyễn Trường Sơn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN
Ông Nguyễn Trường Sơn dẫn chứng một kết quả hợp tác cụ thể giữa hai nước là đập SABO đầu tiên do Nhật Bản tài trợ xây dựng tại tỉnh Sơn La đã phát huy hiệu quả ngăn dòng lũ bùn đá trong đợt lũ tháng 7/2026. Theo ông, những kết quả thực tế này tạo thêm nền tảng để Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục hợp tác trong phòng ngừa, ứng phó và giảm nhẹ rủi ro thiên tai.
Tại Hội thảo, ông Yusuke Nishimura, Phó Giám đốc cấp cao Văn phòng ven biển, Cục Quản lý Nước và Thiên tai, Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (MLIT), cho biết Nhật Bản có khoảng 35.000 km đường bờ biển, trong đó khoảng 14.000 km là khu vực bảo vệ bờ biển. Trước tác động của động đất, bão, sóng thần và xói lở, Nhật Bản chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào đê, kè sang kết hợp bảo vệ bãi biển, kiểm soát trầm tích, đê chắn sóng ngoài khơi và rạn san hô nhân tạo.
Theo đó, quản lý tổng hợp bùn cát là yếu tố quan trọng, cần thực hiện xuyên suốt từ khu vực miền núi, hồ chứa, sông đến ven biển, nhằm hạn chế mất cân bằng trầm tích. Nhật Bản cũng coi bãi cát là một phần của hệ thống bảo vệ bờ, vừa giảm năng lượng sóng, hạn chế xói lở, vừa góp phần bảo tồn môi trường.

Ông Taizo Ida, Trợ lý Thứ trưởng Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (MLIT), phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN
Đại diện Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, cho biết từ năm 2021 đến nay, cả nước ghi nhận 312 điểm xói lở trên 718 km bờ biển; trong đó 178 điểm với chiều dài 407 km ảnh hưởng trực tiếp đến đê điều, khu dân cư, cơ sở hạ tầng, làm mất đất và ảnh hưởng rừng ngập mặn. Đến nay, 161 điểm trên 313 km đã được xử lý. Các nguyên nhân chủ yếu liên quan đến suy giảm nguồn bùn cát, khai thác cát, suy giảm rừng ngập mặn, phát triển hạ tầng ven biển, nước biển dâng và tác động bất thường của bão. Lượng bùn cát về Đồng bằng sông Cửu Long năm 2024 còn khoảng 40 triệu tấn/năm; một số khu vực có tốc độ xói lở trên 80 m/năm.
TS. Lê Xuân Tú, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, cho biết Đồng bằng sông Cửu Long đang đồng thời đối mặt với xâm nhập mặn, sụt lún đất, nước biển dâng và xói mòn bờ biển. Tình trạng xói mòn được ghi nhận trên khoảng 282/744 km bờ biển, tốc độ 1-40 m/năm, làm mất khoảng 300-500 ha đất mỗi năm.
Bên cạnh đó, các tham luận trình bày tại hội thảo cũng giới thiệu hướng quản lý tổng hợp, kết hợp công trình với giải pháp dựa vào tự nhiên như đê biển, kè, đê giảm sóng, bãi cát và rừng ngập mặn. Một số mô hình tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy đê kết cấu rỗng có thể giảm 50-70% năng lượng sóng; kè ly tâm đổ đá hộc giảm 60-80%. Trong đó, Công ty TNHH Kokusai Kogyo giới thiệu cách tiếp cận Eco-DRR, kết hợp “hạ tầng xanh” với “hạ tầng xám” để phân tán năng lượng sóng. Tại tỉnh Quảng Ngãi, dự án trồng rừng ven biển hướng tới ổn định cồn cát, hạn chế cát bay, xói mòn và bảo vệ khu dân cư, đất nông nghiệp phía sau bờ biển.

Ông Yusuke Nishimura, Phó Giám đốc cấp cao Văn phòng ven biển, Cục Quản lý Nước và Thiên tai (thuộc MLIT), trình bày tham luận tại Hội thảo. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN
Hội thảo là cơ hội để các cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia và doanh nghiệp hai nước trao đổi về những vấn đề đặt ra trong bảo vệ bờ biển, chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ và các mô hình thực tiễn phục vụ công tác phòng, chống xói lở bờ biển tại Việt Nam. Dịp này, ông Nguyễn Trường Sơn và ông Yusuke Nishimura đã trao quà lưu niệm, ghi dấu thêm hoạt động giao lưu, hợp tác giữa cơ quan quản lý thiên tai hai nước.

