Việt Nam phải chuyển từ nghiên cứu sang làm chủ công nghệ biển

Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cho rằng Việt Nam cần tổ chức lại năng lực nghiên cứu biển, tập trung đầu tư cho nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và những nhiệm vụ lớn để từng bước làm chủ tri thức, công nghệ biển.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cho rằng, KHCN không chỉ hỗ trợ từng lĩnh vực kinh tế biển, mà phải trở thành nền tảng để quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, bền vững; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cho rằng, KHCN không chỉ hỗ trợ từng lĩnh vực kinh tế biển, mà phải trở thành nền tảng để quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, bền vững; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng.

Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, Nghị quyết 20 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chiến lược mới đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Việt Nam không chỉ nghiên cứu hay phát triển kinh tế biển, mà phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Khoa học và công nghệ vì thế không còn chỉ hỗ trợ từng lĩnh vực kinh tế biển, mà phải trở thành nền tảng để quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, bền vững; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế Việt Nam trong quản trị biển, đại dương.

Ba điểm nghẽn cần tháo gỡ để nâng năng lực nghiên cứu biển

Bộ trưởng Vũ Hải Quân chỉ ra ba điểm nghẽn đang ảnh hưởng đến năng lực khoa học, công nghệ biển của Việt Nam. 

Đầu tiên là nguồn nhân lực. Lấy ngành Hải dương học tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM làm ví dụ, Bộ trưởng cho biết ngành này thường tuyển không đủ chỉ tiêu, điểm chuẩn thuộc nhóm thấp, tương tự một số ngành môi trường và lĩnh vực liên quan.

Theo Bộ trưởng, nếu đội ngũ các nhà khoa học tương lai tiếp tục hạn chế, Việt Nam sẽ khó xây dựng một chiến lược quốc gia về biển đủ mạnh.

Điểm nghẽn thứ hai là hệ thống phòng thí nghiệm, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng nghiên cứu. Viện Hải dương học có lịch sử hơn 100 năm, đi đầu trong nghiên cứu biển và đại dương, nhưng nhiều thiết bị, phòng thí nghiệm đã được đầu tư từ lâu, một số hạng mục đang xuống cấp.

Thực trạng thứ ba nằm ở mô hình tổ chức và quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ.

Bộ trưởng dẫn trường hợp một nhiệm vụ sản xuất giống tôm hùm tại Nha Trang đã nhiều lần phải gia hạn nhưng chưa hoàn thành mục tiêu. Theo ông, điều này không phản ánh sự yếu kém của các nhà khoa học, mà cho thấy cách tổ chức nhiệm vụ còn bất cập.

Với nguồn kinh phí trên dưới 10 tỷ đồng, cùng hạ tầng và nhân lực hạn chế, rất khó yêu cầu một đề tài giải quyết bài toán lớn là làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm trong thời gian ngắn.

Trong khi đó, tại Đại học Tasmania, Australia, bài toán tương tự được đầu tư hàng chục triệu USD và thực hiện trong 10-15 năm mới có thể tạo ra kết quả.

Từ thực tế này, Bộ trưởng cho rằng các nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển cần được tổ chức lại theo hướng tập trung hơn, quy mô lớn hơn và có thời gian đầu tư phù hợp với mục tiêu cần đạt được.

Coi dữ liệu biển là hạ tầng chiến lược, chuyển từ ứng dụng sang làm chủ công nghệ

Theo Bộ trưởng, các nhiệm vụ Chính phủ giao Bộ KH&CN không phải những đầu việc riêng lẻ, mà tạo thành hệ thống liên kết giữa nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực, hạ tầng và hợp tác quốc tế.

Trong giai đoạn đến năm 2030, nhiệm vụ đầu tiên là hình thành năng lực nghiên cứu biển mạnh, có trọng tâm và khả năng dẫn dắt.

Mục tiêu xây dựng 2-3 tổ chức nghiên cứu biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN không nên được nhìn nhận đơn thuần về số lượng. Đây phải là chỉ tiêu phản ánh năng lực quốc gia.

Các tổ chức này cần tập hợp đội ngũ chuyên gia mạnh, sở hữu hạ tầng nghiên cứu hiện đại, làm chủ dữ liệu và công nghệ, giải quyết những bài toán lớn của đất nước, đồng thời tham gia được các mạng lưới nghiên cứu quốc tế.

Đây sẽ là những hạt nhân của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển, thay vì chỉ là các đơn vị nhận thêm đề tài.

Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng hệ thống dữ liệu biển thống nhất, liên thông, cập nhật và an toàn. Theo Bộ trưởng, quản trị biển hiện đại trước hết phải dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học.

Hệ thống dữ liệu cần kết nối thông tin điều tra cơ bản, quan trắc, môi trường, tài nguyên, hạ tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội trên biển.

Trên nền tảng này, bản đồ số biển và đại dương, các công cụ mô hình hóa, dự báo và trí tuệ nhân tạo có thể được phát triển để phục vụ quản lý, quy hoạch, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định.

Cùng với tích hợp, chia sẻ và khai thác, hệ thống phải bảo đảm phân quyền, an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh sự thay đổi về tư duy, đó là chuyển từ ứng dụng sang làm chủ công nghệ.

Việt Nam cần xác định rõ những công nghệ biển, đại dương và công nghệ lưỡng dụng có ý nghĩa chiến lược để tập trung nguồn lực nghiên cứu, tiếp nhận, hấp thụ, chuyển giao và phát triển.

Các lĩnh vực được đề cập gồm quan trắc, giám sát và dự báo biển; khảo sát đáy biển, biển sâu; thiết bị ngầm, robot biển và phương tiện không người lái; công trình biển và năng lượng ngoài khơi; môi trường biển; công nghệ nuôi biển, sinh học biển và công nghệ lưỡng dụng phục vụ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh.

“Mục tiêu cuối cùng không phải chúng ta có thêm bao nhiêu đề tài hay bao nhiêu bài báo, mà là làm chủ được những công nghệ nào, tạo ra sản phẩm gì và hình thành năng lực quốc gia trong lĩnh vực nào”, Bộ trưởng nói.

Để kết quả nghiên cứu được đưa vào thực tế, doanh nghiệp phải tham gia từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa.

Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao nhưng có ý nghĩa chiến lược.

Các địa phương ven biển cũng phải được đặt ở vị trí chủ động hơn trong xác định nhu cầu, tổ chức thử nghiệm và hình thành thị trường cho sản phẩm công nghệ biển.

Theo Bộ trưởng, các nhiệm vụ phải chuyển sang giải quyết những bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng; gắn nghiên cứu cơ bản với điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đào tạo nhân lực, nhu cầu doanh nghiệp và yêu cầu quản trị quốc gia.

Thái Khang

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/viet-nam-phai-chuyen-tu-nghien-cuu-sang-lam-chu-cong-nghe-bien-2549234.html