Việt Nam sẽ huy động hơn 200 tỷ USD qua chứng khoán trong 5 năm tới
Thị trường chứng khoán Việt Nam dự kiến huy động hơn 200 tỷ USD trong 5 năm tới, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2020-2025, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%.

Tại Diễn đàn Chứng khoán châu Á lần thứ 31 do Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam và Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Việt Nam tổ chức chiều 2/10, bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), cho biết Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhu cầu rất lớn về vốn để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, phát triển hạ tầng, chuyển dịch năng lượng, công nghệ cao và các ngành công nghiệp mới.
Sau hơn 26 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đang bước sang một chương mới khi được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là cột mốc quan trọng, phản ánh nỗ lực cải cách trong nhiều năm, từ hoàn thiện khung pháp lý, hiện đại hóa hạ tầng thị trường đến tạo điều kiện để nhà đầu tư quốc tế tiếp cận dễ dàng hơn.
Tăng cường cải cách sau nâng hạng
Theo Chủ tịch UBCKNN, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu trên 2 Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam hiện đạt khoảng 404 tỷ USD, tương đương 81,7% GDP. Giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân mỗi ngày tính từ đầu năm 2026 đạt khoảng 1 tỷ USD. Đến cuối tháng 9, số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán đã đạt gần 10,9 triệu tài khoản.
Những con số này thể hiện quy mô và tiềm năng ngày càng tăng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, bà Phương nhấn mạnh việc nâng hạng không phải là đích đến mà là điểm khởi đầu của một hành trình mới.
"Một thị trường mới nổi không chỉ đơn thuần là lớn hơn. Quan trọng hơn, nó phải minh bạch hơn, hiệu quả hơn, an toàn hơn và tiệm cận gần hơn với các chuẩn mực quốc tế", bà nhấn mạnh.

Chủ tịch UBCKNN Vũ Thị Chân Phương khẳng định việc thị trường chứng khoán Việt Nam lên hạng chỉ là điểm khởi đầu. Ảnh: BTC.
Theo Chủ tịch UBCKNN Vũ Thị Chân Phương, những cải cách trong thời gian qua đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời giúp thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển, thị trường cần đẩy mạnh cải cách về pháp lý, minh bạch thông tin, quản trị công ty, chất lượng sản phẩm và mở rộng cơ sở nhà đầu tư. Đây cũng là những yếu tố quan trọng để tăng khả năng tiếp cận của nhà đầu tư quốc tế.
Trong những năm tới, Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách thị trường, hoàn thiện khung khổ pháp lý và quy định, tăng cường minh bạch thông tin và quản trị công ty, nâng cao chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, đồng thời làm cho thị trường trở nên dễ tiếp cận và minh bạch hơn đối với nhà đầu tư quốc tế.
Cơ quan quản lý cũng sẽ tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng thị trường, triển khai mô hình đối tác bù trừ trung tâm (CCP), thúc đẩy tài chính xanh và tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát thị trường.
Thị trường chứng khoán cần huy động hơn 200 tỷ USD
Cụ thể hóa nhu cầu vốn cho giai đoạn phát triển mới, ông Nguyễn Hoàng Dương, Phó chủ tịch UBCKNN, cho biết Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% trong 5 năm tới.
Theo tính toán, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 ước đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1.500 tỷ USD. Trong đó, ngân sách Nhà nước dự kiến đáp ứng khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương 20%, còn gần 80% sẽ đến từ khu vực tư nhân và nguồn vốn quốc tế.
Riêng kênh thị trường vốn và thị trường chứng khoán được kỳ vọng đóng góp khoảng 10 triệu tỷ đồng, tương đương trung bình 2 triệu tỷ đồng mỗi năm, hay khoảng 80 tỷ USD/năm. Trong đó, tổng giá trị vốn huy động qua thị trường chứng khoán dự kiến đạt 5,4 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 200 tỷ USD trong 5 năm tới, gấp hơn 2 lần tổng nguồn vốn huy động của giai đoạn 2020-2025.

Phó chủ tịch UBCKNN Nguyễn Hoàng Dương ước tính thị trường chứng khoán cần huy động hơn 5,4 triệu tỷ đồng, tương đương 200 tỷ USD trong 5 năm tới. Ảnh: BTC.
Ông Dương cho rằng để đáp ứng nhu cầu vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới, bên cạnh kênh cung ứng vốn truyền thống là tín dụng ngân hàng, Việt Nam cần xây dựng một thị trường vốn không chỉ đơn thuần để huy động thêm vốn, mà quan trọng hơn là hình thành được cấu trúc thị trường đủ sâu, đủ rộng và đủ minh bạch để hấp thụ, phân bổ hiệu quả các nguồn vốn trung và dài hạn.
Thực tế, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua phụ thuộc lớn vào hệ thống tổ chức tín dụng, vốn đóng vai trò bảo đảm nguồn vốn tài trợ và thanh khoản cho nền kinh tế.
Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng ngân hàng đạt khoảng 18,58 triệu tỷ đồng, tương đương 730 tỷ USD, bằng khoảng 145% GDP. Dự kiến trong năm 2026, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục cung ứng thêm khoảng 2,8 triệu tỷ đồng tín dụng mới cho nền kinh tế.
Trong khi đó, đến giữa năm 2026, tổng vốn hóa thị trường cổ phiếu trên HoSE, HNX và UPCoM đạt khoảng 10,57 triệu tỷ đồng, tương đương 410 tỷ USD và bằng 82,3% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt khoảng 32,1% GDP, trong đó trái phiếu doanh nghiệp chiếm 11,6% GDP và trái phiếu Chính phủ chiếm 20,5% GDP.
Hoạt động huy động vốn qua thị trường vốn cũng ghi nhận sự tăng trưởng trong những năm gần đây. Riêng năm 2025, giá trị huy động vốn qua thị trường này cao gấp khoảng 1,55 lần so với năm 2023, trong đó cổ phiếu đạt khoảng 113.000 tỷ đồng, trái phiếu doanh nghiệp đạt 651.000 tỷ đồng và trái phiếu Chính phủ đạt 378.000 tỷ đồng.
5 định hướng phát triển thị trường vốn
Dù ghi nhận những bước tăng trưởng, lãnh đạo UBCKNN cho rằng quy mô thị trường vốn Việt Nam vẫn còn nhỏ, dư địa phát triển còn nhiều để tiệm cận các quốc gia trong khu vực. Sản phẩm trên thị trường chưa đa dạng, cần nghiên cứu thúc đẩy phát hành các sản phẩm mới như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững và trái phiếu hạ tầng.
Theo Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đưa quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, quy mô thị trường trái phiếu đạt 58% GDP, trong đó trái phiếu doanh nghiệp tối thiểu đạt 25% GDP.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, UBCKNN xác định 5 định hướng ưu tiên trọng tâm trong thời gian tới.
Thứ nhất là tái cân bằng cấu trúc dẫn vốn của nền kinh tế, thông qua các giải pháp tối ưu hóa cơ cấu tài trợ giữa tín dụng ngân hàng, phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu, vốn tư nhân, hợp tác công tư và huy động vốn trên thị trường quốc tế.
Theo ông Dương, tín dụng ngân hàng vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu vốn trung và dài hạn sẽ từng bước được dịch chuyển sang thị trường vốn. Cơ quan quản lý sẽ mở rộng cơ sở tổ chức phát hành, không chỉ tập trung vào nhóm ngân hàng và bất động sản mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, năng lượng, hạ tầng và công nghệ tiếp cận vốn qua thị trường.
Thứ hai là đa dạng hóa công cụ nợ bằng đồng nội tệ. Bên cạnh trái phiếu Chính phủ giữ vai trò định chuẩn, UBCKNN sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho trái phiếu hạ tầng, trái phiếu dự án, trái phiếu chính quyền địa phương và chứng khoán hóa tài sản.
Thứ ba là xây dựng cơ sở nhà đầu tư tổ chức dài hạn, với nguồn vốn dài hạn tương xứng từ các định chế đầu tư chuyên nghiệp như quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm.
UBCKNN đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị tài sản của nhà đầu tư nước ngoài đạt khoảng 15% GDP, tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đạt khoảng 5% GDP và quy mô tài sản của các quỹ hưu trí tăng trưởng bình quân 11,5%/năm. Cơ quan quản lý cũng khuyến khích nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ chuyển dần từ hình thức đầu tư trực tiếp trên thị trường sang đầu tư gián tiếp thông qua các quỹ được quản lý chuyên nghiệp.
Thứ tư là phát triển tài chính bền vững theo chuẩn mực quốc tế. UBCKNN sẽ tập trung xây dựng hệ sinh thái tài chính xanh, bao gồm trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội, trái phiếu bền vững, trái phiếu chuyển dịch và các mô hình tài chính hỗn hợp, đồng thời phát triển thị trường tín chỉ carbon.
Thứ năm là chủ động hội nhập sâu hơn để giảm chi phí huy động vốn. Theo đó, UBCKNN sẽ xây dựng lộ trình áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), nâng cao tiêu chuẩn quản trị công ty theo thông lệ của OECD và khuyến khích công bố thông tin ESG.
Các giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư và thúc đẩy vận hành Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam. Đồng thời, cơ quan quản lý đặt mục tiêu duy trì xếp hạng thị trường của FTSE, đáp ứng các tiêu chí nâng hạng lên thị trường mới nổi của MSCI và thị trường mới nổi nâng cao của FTSE đến năm 2030.
