Năng lực phát triển du lịch cải thiện, tạo đà thực hiện mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW
Chỉ số năng lực phát triển du lịch của Việt Nam cải thiện là cơ sở thực tiễn vững chắc để ngành du lịch Việt Nam bứt phá, thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 26-NQ/TW.
Bước chuyển mình của du lịch Việt Nam
Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, tại Báo cáo Chỉ số năng lực phát triển du lịch (TTDI) năm 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam đạt 4,15 điểm, đứng thứ 52/110 nền kinh tế, tăng 7 bậc so với năm 2024. Đáng chú ý, Việt Nam đứng thứ 2 trong nhóm 10 nền kinh tế có mức cải thiện điểm số lớn nhất trong giai đoạn 2024 - 2026, với mức tăng 6,3%, chỉ sau Albania với mức tăng 7,0% và cao hơn đáng kể mức tăng điểm trung bình 2,1% của 110 nền kinh tế.
Trong giai đoạn 2024-2026, điểm số TTDI của các nền kinh tế trung bình tăng 2,1%, mức cải thiện nhanh nhất kể từ năm 2019. Kết quả này được thúc đẩy bởi sự gia tăng các nguồn lực văn hóa, cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch, cũng như kết nối hàng không và các nguồn lực phục vụ du lịch công vụ. Việt Nam nằm trong nhóm các nền kinh tế có mức cải thiện nổi bật nhất.

Việc cải thiện về chỉ số năng lực phát triển du lịch là cơ sở để các địa phương xây dựng môi trường đầu tư du lịch hấp dẫn.
Trao đổi với Báo Công Thương, Tiến sĩ Phạm Hà - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn LuxGroup đánh giá, đây là kết quả tích cực, có ý nghĩa đối với niềm tin thị trường và triển vọng đầu tư. Theo ông, mức cải thiện 6,3%, đứng thứ hai sau Albania, cho thấy đà tiến bộ đáng ghi nhận của những điều kiện hỗ trợ phát triển du lịch. Đối với các hãng hàng không, doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư quốc tế, kết quả ấy có thể bổ sung một cơ sở để đánh giá triển vọng của Việt Nam. Với doanh nghiệp trong nước, đây là động lực để tiếp tục đầu tư vào chất lượng, thương hiệu và sản phẩm dài hạn.
Ông Phạm Hải Quỳnh - Viện trưởng Viện phát triển du lịch châu Á chia sẻ, đây là minh chứng rõ nét cho sự phục hồi kiên cường, sức bứt phá mạnh mẽ và bước chuyển mình về chất của du lịch Việt Nam trong giai đoạn tái thiết toàn diện vừa qua. Đáng chú ý, việc Việt Nam đứng vị trí thứ 2 thế giới về tốc độ cải thiện điểm số TTDI tạo ra một hiệu ứng truyền thông tự nhiên vô cùng đắt giá; là tín hiệu bảo chứng giúp Việt Nam thu hút các tập đoàn quản lý khách sạn, các hãng hàng không quốc tế và các doanh nghiệp lữ hành lớn trong việc mở rộng mạng lưới đường bay, đầu tư chuỗi cung ứng dịch vụ cao cấp.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Thanh Tú - Giám đốc Marketing Công ty BestPrice Travel cho hay, kết quả này có ý nghĩa ở chỗ Việt Nam đang cải thiện điều kiện để phát triển du lịch, chứ không chỉ tăng số lượng khách. Điểm TTDI tăng 6,3%, đưa Việt Nam lên hạng 52/110, là một tín hiệu tích cực khi giới thiệu điểm đến với đối tác quốc tế và các nhà đầu tư. Tuy vậy, thứ hạng không tự động biến thành doanh thu hay sự hài lòng của du khách. Khách có thể bị thu hút bởi cảnh đẹp, văn hóa và mức giá, nhưng quyết định họ ở lại bao lâu, chi tiêu bao nhiêu và có quay lại hay không nằm ở trải nghiệm thực tế. Vì thế, kết quả này vừa là sự ghi nhận, vừa là một lời nhắc rằng cần chuyển lợi thế điểm đến thành sản phẩm và dịch vụ có chất lượng ổn định.

Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số".
Lấy văn hóa làm nền tảng, chất lượng làm thước đo
Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới nêu quan điểm: Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số"; lấy văn hoá làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh; phát triển dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tạo động lực phát triển thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số, kinh tế đêm và các ngành, lĩnh vực khác, vừa cộng hưởng nâng cao giá trị gia tăng, vừa bảo đảm sự gắn kết, phát triển bền vững các trụ cột kinh tế - văn hoá - xã hội - môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng ngoại giao văn hoá, hội nhập quốc tế.
Đồng thời, Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP; đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.
Theo Tiến sĩ Phạm Hà, mục tiêu đề ra của Nghị quyết số 26-NQ/TW là khát vọng lớn, đòi hỏi nguồn lực và nỗ lực tương xứng. Các điểm đến cạnh tranh cũng đang cải thiện, nên Việt Nam cần nâng năng lực liên tục và đồng bộ. Vì thế, nên sử dụng TTDI như một công cụ xác định ưu tiên. Với từng trụ cột còn yếu, cần một kế hoạch có cơ quan chủ trì, ngân sách, thời hạn và chỉ tiêu kết quả. Việc rà soát phải diễn ra thường xuyên để điều chỉnh khi giải pháp chưa tạo chuyển biến.
Trong xúc tiến, quảng bá, kết quả tăng hạng có thể củng cố niềm tin. Nhưng thông điệp phải gắn với những sản phẩm và cải thiện cụ thể. Quảng bá tạo kỳ vọng; chất lượng phục vụ có trách nhiệm thực hiện kỳ vọng ấy. Trong thu hút đầu tư, cần ưu tiên dự án giúp hoàn thiện chuỗi giá trị và giải quyết điểm nghẽn: giao thông kết nối, bến du lịch, hạ tầng môi trường, không gian văn hóa, công nghệ và đào tạo. Mỗi dự án nên được đánh giá về khả năng vận hành, hiệu quả kinh tế, tác động môi trường và lợi ích cộng đồng.
Trong nâng cao năng lực cạnh tranh, theo Tiến sĩ Phạm Hà, phải theo dõi cả lượng khách và giá trị gia tăng. Mục tiêu đóng góp GDP phụ thuộc vào năng suất, liên kết với nhà cung cấp trong nước, chất lượng việc làm và phần giá trị được tạo ra tại Việt Nam. Khách tăng cần đi cùng khả năng phục vụ và sức chịu tải của điểm đến. "Cần xây dựng hệ thống theo dõi các chỉ tiêu như chi tiêu bình quân, thời gian lưu trú, mức độ hài lòng, giá trị gia tăng, việc làm, sử dụng tài nguyên và phản hồi của người dân. Dữ liệu phải đủ tin cậy để quyết định đầu tư, xúc tiến và điều chỉnh chính sách", Tiến sĩ Phạm Hà nêu quan điểm.
Về phía doanh nghiệp, trách nhiệm là nâng chuẩn quản trị, đầu tư vào đội ngũ, giữ lời hứa với khách và chủ động giảm tác hại. Nhà nước tạo môi trường minh bạch, thuận lợi; hiệp hội hỗ trợ đào tạo, chuẩn hóa và kết nối. Tiến sĩ Phạm Hà nhìn nhận, khát vọng thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới cần được cụ thể hóa bằng chất lượng quản trị, chất lượng sản phẩm và chất lượng phục vụ mỗi ngày. Khi những năng lực ấy cùng tiến bộ, tăng trưởng du lịch mới có thể tạo nền móng vững chắc cho sự thịnh vượng và vị thế Việt Nam.
Cùng góc nhìn về kết quả TTDI năm 2026 đối với việc thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, ông Phạm Hải Quỳnh cho rằng, đây là một "thước đo độc lập" uy tín của quốc tế, cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc để ngành du lịch Việt Nam bứt phá, hiện thực hóa các mục tiêu đầy tham vọng của Nghị quyết. Bên cạnh đó, bộ chỉ số TTDI của WEF chính là công cụ tham chiếu tiêu chuẩn quốc tế giúp các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương "soi" lại mình. Địa phương có thể căn cứ vào các trụ cột này để rà soát, điều chỉnh quy hoạch điểm đến, nâng cao năng lực quản lý sức chứa và bảo vệ tài nguyên.
Đặc biệt, ông Phạm Hải Quỳnh nhấn mạnh thêm, cần gắn kết vai trò của Nhà nước (tạo lập chính sách, hạ tầng), doanh nghiệp (đổi mới sản phẩm, dịch vụ) và cộng đồng dân cư (chủ thể giữ gìn văn hóa và môi trường). "Sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba nhà này sẽ tạo nên năng lực cạnh tranh nội tại mạnh mẽ, bảo đảm du lịch Việt Nam không chỉ tăng trưởng về số lượng khách mà còn đạt đỉnh cao về chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội", ông Quỳnh nói.
TTDI là bộ chỉ số đánh giá các yếu tố và chính sách tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và có khả năng chống chịu của ngành du lịch và lữ hành. Chỉ số không trực tiếp đo lường kết quả hoạt động du lịch như lượng khách, mức chi tiêu hay doanh thu, mà tập trung đánh giá các điều kiện giúp một điểm đến có khả năng thu hút, phục vụ và duy trì hoạt động du lịch trong dài hạn.

