Việt Nam - Thái Lan thúc đẩy hợp tác khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Theo phóng viên TTXVN tại Bangkok, chiều 28/5, đoàn công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số do đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo dẫn đầu đã có cuộc làm việc với Cơ quan Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia Thái Lan (NSTDA). Cuộc gặp gỡ mở ra nhiều triển vọng hợp tác sâu rộng, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng thể chế và mô hình phát triển khoa học công nghệ.

Quang cảnh cuộc gặp. Ảnh: TTXVN phát
Tại cuộc làm việc, đại diện NSTDA, PGS.TS. Chaowaree Adthalungrong – Giám đốc điều hành Trung tâm Kỹ thuật Di truyền và Công nghệ Sinh học Quốc gia (BIOTEC) của Thái Lan cho biết hai nước chia sẻ nhiều nét tương đồng về khí hậu, điều kiện tự nhiên, các loại cây trồng kinh tế cũng như những thách thức trong quản lý dịch bệnh trên động, thực vật. Do đó, việc thắt chặt mối quan hệ đối tác là rất cần thiết để có thể cùng giải quyết các vấn đề chung.
Trong những năm qua, NSTDA đã xây dựng mối quan hệ đối tác bền chặt với các viện nghiên cứu, tổ chức của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học, năng lượng và phát triển bền vững. Nổi bật là các dự án hợp tác về chuỗi giá trị sắn, lúa chịu mặn, các sản phẩm công nghệ sinh học và sáng kiến “Hợp tác, phát triển năng lượng xanh tại khu vực lưu vực sông Mekong”.
Giới thiệu về hệ sinh thái của NSTDA, PGS.TS. Chaowaree cho biết cơ quan này được thành lập từ năm 1991, đóng vai trò đầu tàu của Thái Lan về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với 5 trung tâm quốc gia gồm: BIOTEC (Công nghệ sinh học), MTEC (Công nghệ kim loại và vật liệu), NECTEC (Công nghệ máy tính và điện tử), NANOTEC (Công nghệ Nano) và ENTEC (Năng lượng và phát triển bền vững).
Bà Chaowaree kỳ vọng cuộc thảo luận lần này, với trọng tâm là nghiên cứu lúa chịu mặn, vaccine gia cầm và các lĩnh vực thế mạnh của BIOTEC, sẽ là tiền đề mở rộng hợp tác lâu dài giữa hai bên.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Nguyễn Duy Ngọc đánh giá cao bề dày kinh nghiệm và sự hợp tác giữa BIOTEC, NSTDA với các cơ quan của Việt Nam, mong muốn các nội dung thảo luận sẽ sớm mang lại những kết quả thực chất trong cả 3 khâu nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng. Ông khẳng định Việt Nam đã xác định rõ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó đặt trọng tâm lớn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là nền tảng cốt lõi cho sự phát triển của đất nước trong tương lai. Thời gian qua, Ban Chỉ đạo Trung ương đã tích cực đề xuất, tham mưu sửa đổi, hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý liên quan và đã đạt được những kết quả áp dụng khả quan trong thực tiễn.
Chỉ ra những định hướng phát triển tương đồng giữa hai quốc gia, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Nguyễn Duy Ngọc bày tỏ tin tưởng cuộc gặp mang lại những bài học quý cho Việt Nam, đặc biệt là kinh nghiệm kiến tạo các đột phá, tư duy sáng tạo trong quản lý cũng như mô hình kinh doanh thực tiễn; đề xuất hai bên có thể tăng cường đối thoại, trao đổi thông tin để thiết lập cơ sở nghiên cứu và ứng dụng chung, bắt đầu từ những dự án đơn giản và tiến dần tới các giải pháp phức tạp hơn, tiêu biểu như ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp hay lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe…
Cũng trong khuôn khổ chương trình làm việc, đoàn công tác đã tiến hành khảo sát thực tế và nghiên cứu sâu một số mô hình quản lý, chính sách nổi bật của Thái Lan đang áp dụng tại NSTDA nhằm đúc rút kinh nghiệm cho Việt Nam, cụ thể là Mô hình “Cơ quan tự chủ khoa học công nghệ” cho phép vận hành các trung tâm quốc gia dùng chung, linh hoạt trong tự chủ tài chính, tự chủ tuyển dụng và thương mại hóa, vận hành ngoài khung lương hành chính thông thường; Mô hình bộ máy tích hợp (MHESI) tích hợp thống nhất Khoa học Công nghệ - Đổi mới sáng tạo - Giáo dục đại học - Nghiên cứu vào một Bộ duy nhất để tối ưu hóa nguồn lực; Khung kinh tế Sinh học, Tuần hoàn, Xanh (BCG), Bộ ba chính sách thúc đẩy R&D cho doanh nghiệp; Hệ thống cụm Khoa học Công nghệ (Cluster) gắn kết chặt chẽ với đặc khu kinh tế, sở hữu hạ tầng dùng chung cấp quốc tế như máy gia tốc hạt Synchrotron, mở ra định hướng để Việt Nam quy hoạch lại mạng lưới khu công nghệ cao quốc gia trong thời gian tới.











