Viết tiếp bản trường ca của những 'người đi tìm hình của đất'

Có một đội quân chưa từng mang quân hàm mà vẫn đi suốt hơn 80 năm không nghỉ, lặng lẽ trên đá núi và sóng biển để vẽ nên tấm chân dung tài nguyên của Tổ quốc. Đó là những người đang lặng lẽ 'đi tìm hình của đất' về dệt thêm nguồn lực quốc gia.

Khởi điểm thiêng liêng

Trên tấm bản đồ của một quốc gia, có những đường biên được vẽ bằng máu của hàng triệu người lính giữ nước, có những dòng sông được đặt tên bằng mồ hôi của người nông dân mở đất. Nhưng có một lớp bản đồ khác, thầm lặng hơn và cũng thiêng liêng không kém, là tấm bản đồ của ‘nét vẽ’ nằm sâu dưới lòng đất mẹ, nơi mắt thường không bao giờ với tới. Đó là bản đồ tài nguyên, bản đồ của lòng đất gửi tới thế hệ tương lai. Những người vẽ nên nó suốt 81 năm qua đã được lịch sử gọi bằng một cái tên thật đẹp: những người đi tìm hình của đất. Đó còn là danh xưng không phải để tô điểm mà là bản mô tả chính xác về một công việc mà thành quả lớn nhất luôn nằm ở nơi sâu thẳm nhất, còn người làm ra nó thì thường lặng lẽ nhất.

Những nhà địa chất đã khẳng định vai trò trở thành là 'hậu phương' cung cấp cơ sở tài nguyên, khoáng sản cho đất nước - Ảnh tư liệu/Cục ĐCKS cung cấp

Những nhà địa chất đã khẳng định vai trò trở thành là 'hậu phương' cung cấp cơ sở tài nguyên, khoáng sản cho đất nước - Ảnh tư liệu/Cục ĐCKS cung cấp

Họ là ai, mà biết bao cuộc đời đi hết dặm dài đất nước chỉ để ‘đánh thức’ những âm vang từ lòng đất và trả lời cho một câu hỏi tưởng như giản dị đến vô cùng, rằng dưới lòng từng tấc đất quê hương, xứ sở đang có những gì? Nếu người thợ mỏ nhìn thấy than, người luyện kim nhìn thấy thép, còn người địa chất phải nhìn thấy cả một vỉa quặng khi trên tay mới chỉ có một mẩu đá và trong đầu là những phép tính về tuổi của lớp trầm tích. Đằng sau mỗi khối quặng vô tri, đó còn là cả một câu chuyện dài của lòng quả cảm, của trí tuệ và của những hy sinh thầm lặng suốt hơn tám thập kỷ ‘đánh thức’ tài nguyên về làm giàu cho đất nước.

Ngược dòng lịch sử về với mùa thu cách mạng 81 năm trước, giữa buổi bình minh của nền độc lập, ngành địa chất Việt Nam ra đời gần như cùng một nhịp với nền độc lập của dân tộc. Chỉ ít ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữa muôn vàn công việc cấp bách của một chính quyền còn non trẻ, Người vẫn dành sự quan tâm để ký những văn bản tổ chức lại ngành mỏ và địa chất. Theo Nghị định ngày 2 tháng 10 và Sắc lệnh ngày 3 tháng 10 năm 1945, Nha Kỹ nghệ cùng Sở Tổng thanh tra Khoáng chất và Kỹ nghệ được tổ chức lại và đặt trong Bộ Quốc dân Kinh tế. Trong cử chỉ ấy ẩn chứa một tầm nhìn xuyên thế kỷ, rằng một dân tộc muốn độc lập, tự do mãi mãi thì trước hết phải thấu hiểu chính cơ thể giang sơn mình, phải biết trong lòng đất mẹ đang chất chứa những kho báu nào. Bởi tài nguyên chưa bao giờ chỉ đơn thuần là của cải mà còn là một phần máu thịt của chủ quyền quốc gia. Từ dấu mốc ấy, ngành Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã viết lên hàng trình rực rỡ của mình.

65 năm sau, ngày 21/5/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 718/QĐ-TTg, lấy ngày 2/10 hằng năm làm Ngày truyền thống ngành Địa chất Việt Nam.

Máu và mồ hôi thấm vào từng trang bản đồ

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, khi mọi điều kiện nghiên cứu bài bản gần như là điều xa xỉ, những người địa chất vẫn âm thầm lần tìm và khai thác những mỏ than, sắt, mangan, thiếc ở quy mô nhỏ để kịp thời tiếp sức cho kháng chiến và dân sinh.

Sau năm 1954, khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, ngành bước vào thời kỳ trưởng thành rực rỡ với sự trợ giúp của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Tư liệu còn lưu giữ một chi tiết đẹp như huyền thoại về buổi đầu gây dựng đội ngũ, ấy là vào đầu tháng 7 năm 1955, Giáo sư Trần Đại Nghĩa, khi ấy là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, đã đích thân khai giảng lớp chuyên viên địa chất đầu tiên ngay dưới mái chùa Láng. Từ một Sở Địa chất buổi đầu chỉ vỏn vẹn hơn 250 con người, đội ngũ lớn dần lên hàng nghìn, rồi hàng vạn, làm nên một lực lượng khoa học hùng hậu của đất nước.

Trong kháng chiến hay trong hòa bình, những nhà địa chất vẫn in dấu chân của mình trên khắp dặm dài đất nước để khảo sát, tìm kiếm tài nguyên cho đất nước - Ảnh: Mai Đan/Báo Nông nghiệp và Môi trường

Trong kháng chiến hay trong hòa bình, những nhà địa chất vẫn in dấu chân của mình trên khắp dặm dài đất nước để khảo sát, tìm kiếm tài nguyên cho đất nước - Ảnh: Mai Đan/Báo Nông nghiệp và Môi trường

Đó là những năm tháng mà từng đoàn địa chất tỏa đi khắp các triền núi, thung sâu, để rồi từ những chuyến đi ấy, tấm bản đồ địa chất của Tổ quốc dần thành hình. Trước tiên là tỷ lệ 1:500.000 phác họa toàn bộ dáng hình đất nước, rồi thu dần về 1:200.000 và cuối cùng là 1:50.000 tỉ mỉ đến từng vạt đồi. Sau mỗi lần tấm bản đồ được vẽ chi tiết hơn trên giấy lại là một lần đội ngũ phải đổ thêm biết bao công sức xuống thực địa. Chính từ những nét vẽ thấm đẫm mồ hôi ấy, gương mặt tài nguyên của giang sơn hiện lên rạng rỡ với những cái tên đã đi vào huyết mạch nền công nghiệp nước nhà, đó là than Quảng Ninh, sắt Thái Nguyên, apatit Lào Cai, bauxit Tây Nguyên, titan ven biển miền Trung, đất hiếm Lai Châu, đồng Sin Quyền, vàng Bồng Miêu. Những cái tên “chẳng thơ đâu” nhưng đó là mạch nguồn phụng sự cả một nền kinh tế.

Lịch sử ngành địa chất khoáng sản còn được ngân lên bằng những âm điệu vinh quang. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, biết bao đoàn địa chất đã vượt Trường Sơn, bám trụ nơi mưa bom bão đạn để tìm nguồn nước cho bộ đội, vật liệu xây dựng, cung cấp những tấm bản đồ quý giá từng đoàn quân ra trận và không ít người đã hiến dâng cả tuổi xuân, ‘hóa thân’ vào từng tấc đất thiêng liêng, góp phần dựng xây dáng hình Tổ quốc hôm nay. Ngay cả trong những ngày hòa bình, hành trang của những người địa chất vẫn là những mùa ngủ trên đá lạnh, ăn nắm cơm vắt giữa đại ngàn, chỉ cốt đo cho trọn một góc nhỏ trên bản đồ. Truyền thống dấn thân ấy đã trở thành khí phách, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một ngọn lửa không bao giờ tắt.

Bước vào thời kỳ Đổi mới từ năm 1986, ngành địa chất đã nhanh chóng chuyển mình, trở thành một trong những lĩnh vực tiên phong hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ. Ngành từng bước chuyển từ điều tra phát hiện sang điều tra đánh giá và dự báo, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách và quy hoạch phát triển. Những năm gần đây, các công nghệ hiện đại như viễn thám, ảnh vệ tinh, thiết bị bay không người lái, đo phổ gamma hàng không hay mô hình hóa dữ liệu địa chất đã được ứng dụng mạnh mẽ, trong đó việc chế tạo thành công thiết bị bay đo phổ gamma mang thương hiệu Việt là một dấu mốc khẳng định khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến.

Thành quả của tám thập kỷ lao động miệt mài đã được đo bằng những con số đầy sức nặng. Trên cả nước, hơn 5000 điểm mỏ với trên sáu mươi loại khoáng sản đã được phát hiện. Tính đến năm 2024, công tác điều tra cơ bản địa chất đã phủ được khoảng 74,7% diện tích đất liền ở tỷ lệ 1:50.000, tương đương chừng 200.000 km2, cùng với khoảng 41.000 Km2 vùng biển. Riêng giai đoạn 2014 đến 2024, ngành đã đóng góp cho ngân sách quốc gia trung bình mỗi năm từ 16 đến 20 nghìn tỷ đồng qua thuế tài nguyên và phí khai thác…

Những cống hiến to lớn ấy đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cho toàn ngành, cùng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2005 dành cho cụm công trình Bản đồ địa chất và Bản đồ khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1:500.000, kết tinh trí tuệ của biết bao thế hệ. Đá, tài nguyên vẫn nằm nguyên nơi lòng đất, nhưng cách con người lắng nghe và thấu hiểu nhịp đập của đất mẹ thì ngày một sâu sắc hơn.

Viết tiếp tương lai

Và trong dòng chảy 81 năm ấy, mùa thu năm 2026 đã ghi thêm một dấu mốc đặc biệt, khi ngành địa chất trở về với Bộ Công Thương. Với những người trong nghề, đây không chỉ là một cuộc sắp xếp lại bộ máy, mà là cuộc trở về mái nhà mà ngành từng gắn bó suốt hơn nửa thế kỷ. Lần giở lại những tập hồ sơ, ngay từ khi ra đời, ngành đã nằm trong Bộ Quốc dân Kinh tế (tiền thân của Bộ Công Thương ngày nay).

Từ dấu mốc năm 1945, ngành địa chất đi cùng hành trình kiến thiết đất nước và nhiều lần thay đổi mô hình tổ chức theo yêu cầu quản lý của từng thời kỳ. Năm 1955, Sở Địa chất và Cục Khai khoáng thuộc Bộ Công Thương. Năm 1957, Cục Địa chất thuộc Bộ Công nghiệp. Đến ngày 26/7/1960, Tổng cục Địa chất được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Bộ máy chuyên ngành dần được củng cố, các đoàn địa chất mở rộng địa bàn khảo sát, tiến sâu vào những khu vực trước đó còn thiếu dữ liệu về cấu trúc địa chất và tài nguyên.

Phía sau những quyết định tổ chức bộ máy là dấu chân của các đoàn địa chất trên thực địa. Trong những năm chiến tranh, công tác điều tra địa chất vẫn được duy trì để tìm kiếm nguồn nguyên liệu, nước, vật liệu xây dựng và phục vụ nhu cầu sản xuất. Bước vào thời kỳ kiến thiết, phạm vi điều tra ngày càng mở rộng, góp phần làm rõ tiềm năng của nhiều vùng khoáng sản gắn với các ngành sản xuất quan trọng như than Quảng Ninh, apatit Lào Cai, đồng Sin Quyền, bauxite Tây Nguyên, titan ven biển miền Trung cùng nhiều loại khoáng sản kim loại và phi kim loại khác.

Giá trị của công tác địa chất cũng vượt ra ngoài câu chuyện khoáng sản. Những kết quả điều tra và bản đồ địa chất trở thành cơ sở phục vụ lựa chọn địa điểm xây dựng công trình, nghiên cứu nền móng, đánh giá tai biến địa chất, quy hoạch không gian ngầm, điều tra nước dưới đất, địa nhiệt và môi trường.

Những "người đi tìm hình của đất" bền bỉ khai phá tài nguyên trong suốt hành trình 81 năm qua - Ảnh tư liệu/Cục ĐC&KS cung cấp

Những "người đi tìm hình của đất" bền bỉ khai phá tài nguyên trong suốt hành trình 81 năm qua - Ảnh tư liệu/Cục ĐC&KS cung cấp

Năm 1987, Tổng cục Mỏ và Địa chất được thành lập. Đầu thập niên 1990, bộ máy quản lý tiếp tục được sắp xếp lại. Đến năm 1996, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam ra đời, trực thuộc Bộ Công nghiệp.

Thay đổi bước ngoặt diễn ra năm 2002, sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập. Chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản được chuyển từ Bộ Công nghiệp sang bộ mới.

Hơn hai thập niên tiếp theo, mô hình tổ chức nhiều lần được điều chỉnh, qua Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, các cục chuyên ngành rồi Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường từ năm 2025.

Suốt một dặm dài trải qua hơn tám thập niên, công việc của ngành địa chất đã đi xa hơn nhiệm vụ tìm kiếm và khoanh định các thân khoáng sản. Những lớp dữ liệu được tích lũy qua nhiều thế hệ đang trở thành cơ sở để Nhà nước tính toán cách khai thác, sử dụng và dự trữ tài nguyên trong một giai đoạn phát triển mới. Giá trị của địa chất ngày càng gắn chặt với bài toán an ninh nguyên liệu, năng lực tự chủ của nền kinh tế và vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khoáng sản toàn cầu.

Ngày 4/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản.

Theo Nghị quyết, các nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản đang thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng theo những quy định được văn bản xác định sẽ chuyển sang Bộ Công Thương thực hiện. Ở địa phương, những nhiệm vụ tham mưu thuộc phạm vi chuyển giao cũng được chuyển sang Sở Công Thương. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/9/2026 đến hết ngày 28/2/2027, trừ trường hợp cơ chế pháp lý liên quan được gia hạn.

Ngày 11/9, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 351/2026/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, có hiệu lực từ ngày 15/9.

Theo Nghị định 351, địa chất và khoáng sản chính thức thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam là một trong 18 tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, trong tổng số 21 đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ.

Nhìn theo dòng lịch sử, đây là một cuộc trở lại…

Năm 1996, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam từng trực thuộc Bộ Công nghiệp. Cuối năm 2002, sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập, chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản được chuyển sang bộ mới. Hơn hai thập niên sau, lĩnh vực này một lần nữa trở lại hệ thống quản lý công nghiệp và thương mại. Song cuộc trở lại năm 2026 diễn ra trong một cấu trúc kinh tế rất khác...

Bộ Công Thương hiện quản lý một hệ thống ngành rộng gồm điện, than, dầu khí, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, hóa chất, cơ khí, luyện kim, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp môi trường và công nghiệp công nghệ cao. Nghị định 351 đồng thời giao Bộ quản lý điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản, bảo vệ tài nguyên chưa khai thác, hoạt động khoáng sản, thu hồi, chế biến và sử dụng khoáng sản, quy hoạch khoáng sản, đấu giá quyền khai thác, khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia cùng danh mục khoáng sản chiến lược, quan trọng.

Và điều đáng quan tâm của câu chuyện “trở về” nằm ở mối quan hệ giữa địa chất, khoáng sản và công nghiệp. Địa chất nằm ở đầu nguồn của nhiều chuỗi sản xuất, những gì nằm dưới lòng đất chỉ trở thành nguồn lực kinh tế sau một chuỗi công việc kéo dài từ điều tra, đánh giá trữ lượng, quy hoạch, khai thác đến chế biến và đưa nguyên liệu vào sản xuất. Đặt các khâu này trong cùng một hệ thống quản lý mở ra điều kiện để chính sách khoáng sản gắn chặt hơn với nhu cầu nguyên liệu của từng ngành công nghiệp.

Lịch sử lần này không quay lại điểm xuất phát. Ngành địa chất trở về với một nền dữ liệu dày hơn, hệ thống pháp luật đầy đủ hơn và yêu cầu quản trị tài nguyên chặt chẽ hơn. Bộ Công Thương hiện nay cũng quản lý một cấu trúc công nghiệp rộng và phức tạp hơn nhiều so với Bộ Công nghiệp cách đây ba thập niên.

Do đó, ý nghĩa của lần trở lại này không nằm ở tên cơ quan chủ quản, thước đo sẽ là khả năng nối dữ liệu địa chất với chiến lược nguyên liệu quốc gia, gắn khai thác với chế biến sâu, bảo đảm kỷ luật môi trường và chuyển nhiều hơn giá trị của tài nguyên thành năng lực sản xuất trong nước.

Ôn cố để tri tân và cũng phải chỉ để cho thỏa nỗi hoài niệm, mà cốt để hiểu cho đúng chỗ đứng hôm nay và bước tiếp thật vững vàng. Bởi có những tấm bản đồ ghi đường biên, địa danh, sông núi và những công trình con người dựng lên trên mặt đất. Cũng có một lớp bản đồ ít xuất hiện trong đời sống thường ngày hơn, trên đó là các tầng đá, đứt gãy, cấu trúc địa chất, thân quặng cùng dấu tích của hàng trăm triệu năm vận động của vỏ Trái Đất. Nhưng để vẽ được những đường nét đó, nhiều thế hệ cán bộ địa chất đã mang ba lô, búa địa chất, bản đồ, sổ tay vào rừng sâu, lên núi cao, tới vùng biên giới, ven biển và hải đảo. Một mẫu đá lấy giữa sườn núi, một vệt khoáng hóa, tín hiệu địa vật lý hay kết quả phân tích có thể trở thành đầu mối cho một chương trình khảo sát kéo dài nhiều năm.

Suốt hơn tám thập niên, hàng triệu mảnh dữ liệu như vậy đã dần làm rõ cấu trúc địa chất và tiềm năng tài nguyên của đất nước. Những tấm bản đồ được hoàn thiện qua nhiều tỷ lệ, các vùng khoáng sản được khoanh định, một kho tri thức tích lũy qua nhiều thế hệ hình thành. Trong các bản thảo về lịch sử ngành, hình ảnh đó được gọi bằng cái tên “những người đi tìm hình của đất”. 

Tám mươi mốt năm chỉ là một chương của bản trường ca chưa khép lại. Dưới mái nhà Công Thương hôm nay, những người đi tìm hình của đất lại tiếp tục cầm bút viết tiếp những trang mới, nơi mỗi tấm bản đồ, mỗi vỉa quặng được tìm ra là một nốt nhạc góp vào khúc ca dựng xây đất nước. Đất nước đang vươn mình, bản trường ca ấy sẽ còn được viết tiếp, lặng lẽ mà kiêu hãnh, bằng chính bước chân của những người lính không quân hàm trên mặt trận tài nguyên.

Ngày 15/9/2026 là dấu mốc mở ra một chặng mới trong hành trình 81 năm của ngành địa chất Việt Nam. “Người đi tìm hình của đất” vẫn sẽ tiếp tục công việc của mình. Nhưng phía sau mỗi lớp bản đồ địa chất hôm nay là những quyết định về công nghiệp, công nghệ, đầu tư, tài chính và môi trường có thể định hình năng lực phát triển của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Nguyễn Cường - Nguyên Thảo

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/viet-tiep-ban-truong-ca-cua-nhung-nguoi-di-tim-hinh-cua-dat-472948.html