Việt Úc kết nối viện, trường, doanh nghiệp làm chủ công nghệ giống tôm

Từ kinh nghiệm chọn giống tôm thẻ chân trắng đến nghiên cứu công nghệ giống tôm hùm, Tập đoàn Việt Úc đang thúc đẩy hướng tiếp cận kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và đối tác quốc tế. Mô hình hợp tác này hướng tới đưa kết quả khoa học vào thực tiễn sản xuất, từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ giống thủy sản.

Nhà máy Thủy sản Việt Úc (Viet Uc Group).

Nhà máy Thủy sản Việt Úc (Viet Uc Group).

Doanh nghiệp kết nối nghiên cứu với thực tiễn

Trong ngành thủy sản, chất lượng con giống có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả nuôi, khả năng kiểm soát dịch bệnh và sức cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên, để chuyển kết quả nghiên cứu thành công nghệ có thể ứng dụng ở quy mô công nghiệp, cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Tập đoàn Việt Úc là một trong những doanh nghiệp tham gia thúc đẩy hướng tiếp cận này. Tại Hội thảo “Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam”, tổ chức ngày 18/10 tại Khánh Hòa, doanh nghiệp chia sẻ định hướng kế thừa tri thức, dữ liệu và kinh nghiệm từ chương trình chọn giống tôm thẻ chân trắng để hỗ trợ nghiên cứu di truyền tôm hùm bông.

Theo nội dung được trình bày, các kết quả so sánh hệ gene bước đầu gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo. Tuy nhiên, những kết quả này cần được tiếp tục kiểm chứng, đánh giá trước khi xác định khả năng ứng dụng. Việc kết nối với đối tác quốc tế cũng nhằm bổ sung chuyên môn, tiếp cận phương pháp và công nghệ, đồng thời phát huy năng lực nghiên cứu, thử nghiệm trong nước.

Liên kết đa ngành tháo gỡ nút thắt công nghệ

Theo thông tin tại hội thảo, nhu cầu giống tôm nước lợ của Việt Nam khoảng 150–160 tỷ con mỗi năm. Dù đã đạt kết quả trong nghiên cứu, chọn tạo giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng, năng lực chủ động nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao vẫn cần tiếp tục nâng lên. Với tôm hùm, nguồn giống phục vụ nuôi thương phẩm hiện vẫn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nhập khẩu.

Các nghiên cứu trong nước đã đạt kết quả ở một số công đoạn nuôi vỗ tôm hùm bố mẹ, sinh sản và ương nuôi ấu trùng, nhưng chưa hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo. Những vấn đề cần tiếp tục giải quyết gồm dinh dưỡng ấu trùng, kiểm soát môi trường, hệ thống ương và quá trình chuyển sang giai đoạn con giống.

Trang trại nuôi tôm Việt Úc. Ảnh: Viet Uc Group.

Trang trại nuôi tôm Việt Úc. Ảnh: Viet Uc Group.

Tại hội thảo, các chuyên gia CSIRO, Cơ quan Khoa học Quốc gia Australia, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu đa ngành và kết nối nguồn lực phát triển công nghệ thủy sản. Doanh nghiệp Ornatas của Australia giới thiệu kết quả nghiên cứu về công nghệ sản xuất giống, nuôi tôm hùm, đồng thời đề cập yêu cầu kỹ thuật, chi phí và hiệu quả khi mở rộng sản xuất.

Ở góc độ đào tạo và chuyển giao, Đại học Cần Thơ nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng giống, gắn nghiên cứu với ứng dụng và phát triển nhân lực. Đắk Lắk đề xuất lựa chọn cơ sở thử nghiệm bảo đảm điều kiện hạ tầng, nguồn nước, nhân lực và an toàn sinh học; Quảng Ngãi kiến nghị đánh giá chất lượng giống trong điều kiện nuôi thực tế, có sự tham gia của cơ sở sản xuất và người nuôi.

Làm chủ công nghệ, phát triển chuỗi giá trị

Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh, triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh phải gắn với nâng cao năng lực ngành thủy sản xuất khẩu và làm chủ các công nghệ cốt lõi.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Bộ KHCN.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Bộ KHCN.

Theo Bộ trưởng, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho công nghệ chiến lược, nhất là hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) có rủi ro cao và hệ thống phòng thí nghiệm. Địa phương có trách nhiệm quy hoạch quỹ đất, vùng nuôi và hạ tầng phù hợp; doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm, phối hợp với viện, trường nghiên cứu công nghệ sản xuất giống, chọn lọc gene và tổ chức sản xuất ở quy mô công nghiệp.

Đối với tôm hùm, Việt Nam có thể kế thừa thành tựu nghiên cứu 20 năm của Australia, 25 năm kinh nghiệm của Tập đoàn Việt Úc và kết quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ cho viện, trường, doanh nghiệp. Tuy nhiên, để tạo ra sản phẩm thương mại, quá trình nghiên cứu cần được đầu tư đủ lớn, đủ dài và gắn với nhu cầu thị trường.

Bộ trưởng cũng lưu ý, giống chỉ là một công đoạn trong chuỗi giá trị. Vì vậy, cần xây dựng chương trình tổng thể, dài hạn về tôm hùm, từ giống, thức ăn, vùng nuôi, phòng bệnh đến chế biến và thị trường.

Thực tiễn này đặt ra yêu cầu chuyển từ hợp tác nghiên cứu riêng lẻ sang mô hình liên kết dài hạn, có mục tiêu và trách nhiệm rõ ràng. Khi doanh nghiệp tham gia xuyên suốt quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa, còn viện, trường đảm nhiệm phát triển tri thức, đào tạo và chuyển giao công nghệ, kết quả khoa học sẽ có thêm điều kiện đi vào sản xuất.

Hằng Phạm

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/viet-uc-ket-noi-vien-truong-doanh-nghiep-lam-chu-cong-nghe-giong-tom.html