Vietbank lãi tăng 83%, dòng tiền kinh doanh âm hơn 4.700 tỷ đồng
Báo cáo tài chính quý II/2026 của Vietbank cho thấy lợi nhuận tăng mạnh, trong khi nợ nhóm 2 tăng gấp đôi và dòng tiền kinh doanh âm hơn 4.700 tỷ đồng.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank, HoSE: VBB) công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 vào ngày 29/7/2026, chỉ hai tuần sau khi hơn 1,07 tỷ cổ phiếu VBB chuyển từ UPCoM lên sàn TP.HCM. Lợi nhuận sau thuế lũy kế sáu tháng đạt 750.757 triệu đồng, tăng 340.947 triệu đồng, tương đương 83,20% so với cùng kỳ năm 2025.
Mức tăng trưởng này đưa Vietbank vào nhóm ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh trong nửa đầu năm 2026. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực, báo cáo tài chính và bản thuyết minh dài 45 trang cho thấy bức tranh tài chính của ngân hàng không chỉ có gam màu sáng, với nhiều chỉ dấu đáng chú ý về chất lượng tài sản, nguồn vốn và dòng tiền.
Lợi nhuận đi lên khi ngân hàng hoàn nhập dự phòng rủi ro
Riêng quý II/2026, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Vietbank đạt 667.840 triệu đồng. Tổng lợi nhuận trước thuế của Vietbank lại lên tới 776.798 triệu đồng, cao hơn 108.958 triệu đồng.
Chênh lệch đến từ dòng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Vietbank. Trong quý II/2026, dòng đó mang dấu dương 108.958 triệu đồng, tức Vietbank hoàn nhập dự phòng thay vì trích lập. Cùng kỳ năm 2025, Vietbank trích 94.007 triệu đồng. Phần hoàn nhập đóng góp khoảng 14% lợi nhuận trước thuế quý II.

Báo cáo kết quả hoạt động hợp nhất quý II/2026 của Vietbank. Dòng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng quý II/2026 ghi 108.958 triệu đồng không có dấu ngoặc, tức hoàn nhập, trong khi cùng kỳ 2025 trích lập 94.007 triệu đồng. Ảnh chụp màn hình báo cáo tài chính.
Tính chung sáu tháng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Vietbank chỉ còn 85.904 triệu đồng, giảm 126.502 triệu đồng, tương đương 59,56%. Nếu Vietbank giữ nguyên mức trích lập như nửa đầu năm 2025, lợi nhuận trước thuế sáu tháng sẽ lùi từ 943.549 triệu đồng xuống khoảng 817 tỷ đồng.
Số dư dự phòng cụ thể cho vay khách hàng của Vietbank giảm từ 689.518 triệu đồng đầu năm xuống 657.237 triệu đồng cuối kỳ. Phần tăng của tổng dự phòng tại Vietbank đến từ dự phòng chung, khoản trích theo tỷ lệ cố định 0,75% trên dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.
Nguồn thu ngoài lãi của Vietbank phân hóa mạnh. Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ hợp nhất sáu tháng còn 46.622 triệu đồng, giảm 27,96%. Trên báo cáo riêng lẻ, mảng dịch vụ của ngân hàng mẹ Vietbank lỗ 855 triệu đồng trong quý II/2026, trong khi cùng kỳ lãi 32.164 triệu đồng. Lũy kế sáu tháng, lãi thuần dịch vụ riêng lẻ của Vietbank giảm 66,59%, còn 20.796 triệu đồng.
Bù lại, lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư của Vietbank tăng 324,61%, đạt 98.786 triệu đồng. Bên trong khoản đó có 21.693 triệu đồng hoàn nhập dự phòng rủi ro chứng khoán đầu tư. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối giảm nhẹ 2,23%, còn 50.351 triệu đồng.
Nợ nhóm 2 tăng hơn hai lần, lãi dự thu phình nhanh
Tỷ lệ nợ xấu của Vietbank giảm rõ rệt. Cuối quý II/2026, tổng nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 của Vietbank ở mức 2.240.471 triệu đồng trên tổng dư nợ 119.949.248 triệu đồng, tương đương 1,87%, thấp hơn mức 2,92% hồi đầu năm. Nợ có khả năng mất vốn giảm 48,5%, còn 1.107.710 triệu đồng.
Ở nhóm liền kề, diễn biến tại Vietbank đi theo hướng ngược lại. Nợ cần chú ý, tức nợ nhóm 2, tăng từ 1.086.555 triệu đồng lên 2.370.807 triệu đồng, gấp 2,18 lần chỉ sau sáu tháng. Nợ nghi ngờ thuộc nhóm 4 tăng 96,4%, lên 647.683 triệu đồng.
Nợ nhóm 2 chưa phải nợ xấu. Theo chính thuyết minh của Vietbank, đây là các khoản quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày hoặc mới điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu và còn trong hạn. Cộng cả nợ nhóm 2 với nợ xấu, Vietbank có 4.611.278 triệu đồng dư nợ cần theo dõi, chiếm 3,84% tổng dư nợ.

Thuyết minh chất lượng nợ cho vay tại ngày 30/6/2026 của Vietbank. Nợ cần chú ý (nhóm 2) tăng từ 1.086.555 triệu đồng lên 2.370.807 triệu đồng sau sáu tháng. Ảnh chụp màn hình báo cáo tài chính.
Một dòng khác trên bảng cân đối kế toán của Vietbank cũng biến động nhanh. Các khoản lãi và phí phải thu, tức phần lãi Vietbank đã ghi vào thu nhập nhưng chưa nhận được tiền, tăng từ 2.738.336 triệu đồng lên 3.880.337 triệu đồng, tương đương 41,7%. Tốc độ đó vượt mức tăng dư nợ cho vay 13,98% và mức tăng thu nhập lãi 25,33% trong cùng giai đoạn.
Ngoài bảng cân đối, Vietbank còn theo dõi 1.138.958 triệu đồng lãi cho vay và phí phải thu chưa thu được, cùng 389.613 triệu đồng nợ khó đòi đã xử lý.
Cơ cấu nguồn vốn của Vietbank là điểm cần chú ý tiếp theo. Trong sáu tháng, dư nợ cho vay khách hàng của Vietbank tăng thêm 14.714.185 triệu đồng, còn tiền gửi khách hàng chỉ tăng 2.443.160 triệu đồng, tương đương 2,41%. Phần thiếu hụt đến từ phát hành giấy tờ có giá, tăng 19,50% lên 28.254.940 triệu đồng, chủ yếu là chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn dưới một năm với 21.800.000 triệu đồng.
Hệ quả hiện ra trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Vietbank. Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của Vietbank âm 4.719.696 triệu đồng, gấp ba lần mức âm 1.551.017 triệu đồng cùng kỳ. Tiền và các khoản tương đương tiền cuối kỳ còn 50.062.896 triệu đồng, giảm 5.534.616 triệu đồng so với đầu năm.
Bảng phân tích thanh khoản trong thuyết minh cho thấy mức chênh lệch thanh khoản ròng của Vietbank âm ở cả ba thang kỳ hạn dưới 12 tháng, lần lượt 22.654.527 triệu đồng, 6.394.756 triệu đồng và 6.831.053 triệu đồng.
Vietbank chưa đủ dữ liệu để đo độ nhạy lãi suất
Ở phần quản lý rủi ro tài chính, thuyết minh của Vietbank ghi rõ nhà băng chưa thực hiện phân tích độ nhạy đối với lãi suất tại ngày 30/6/2026 “do chưa có đủ các điều kiện về hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin đầu vào”.
Ghi nhận đó xuất hiện cùng lúc với quy mô giao dịch phái sinh của Vietbank mở rộng rất nhanh. Cam kết giao dịch hối đoái ngoại bảng của Vietbank tăng từ 53.420.837 triệu đồng lên 135.305.439 triệu đồng, trong đó cam kết hoán đổi chiếm 126.927.389 triệu đồng, gấp 2,57 lần đầu năm. Tổng các chỉ tiêu ngoại bảng tăng 107%, lên 147.347.531 triệu đồng, gấp hơn 11 lần vốn chủ sở hữu 13.154.026 triệu đồng.

Biểu đồ chứng khoán VBB phiên ngày 7/8
Trạng thái tiền tệ nội bảng của Vietbank âm 2.511.749 triệu đồng, trong đó riêng USD âm 2.527.820 triệu đồng. Tổng giá trị hợp đồng hoán đổi tiền tệ của Vietbank theo thuyết minh đạt 61.062.486 triệu đồng, so với 25.232.428 triệu đồng cuối năm 2025.
Cũng theo báo cáo, tài sản cố định vô hình của Vietbank ở mức 2.938.392 triệu đồng, chiếm 76,3% tổng tài sản cố định 3.850.654 triệu đồng. Chi phí khấu hao sáu tháng tăng 80,17%, lên 92.543 triệu đồng. Báo cáo quý không thuyết minh chi tiết cơ cấu của khoản tài sản vô hình đó.
Nhân sự của Vietbank và công ty con giảm từ 3.060 người xuống 3.027 người. Ban điều hành Vietbank biến động liên tiếp, với ba lãnh đạo rời vị trí trong ngày 11/7/2026, gồm Quyền Tổng Giám đốc Lê Thanh Quý Ngọc và hai Phó Tổng Giám đốc. Ông Phạm Linh nhận chức Phó Tổng Giám đốc phụ trách điều hành từ cùng ngày.
Một chi tiết khác nằm ở văn bản giải trình số 2506/2026/CV-VB mà Vietbank gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cùng hai Sở Giao dịch Chứng khoán ngày 30/7/2026. Bảng số liệu trong văn bản của Vietbank mang nhãn “BCTC Quý 02/2026” nhưng dùng toàn bộ số lũy kế sáu tháng. Lợi nhuận sau thuế riêng quý II/2026 của Vietbank là 619.324 triệu đồng, còn 750.757 triệu đồng là kết quả sáu tháng. Thu nhập lãi thuần quý II là 993.583 triệu đồng, còn 1.761.680 triệu đồng là số lũy kế.
Bản tiếng Anh trong văn bản giải trình của Vietbank lệch với bản tiếng Việt ở mục thuế. Phần tiếng Việt ghi chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tăng 88.260 triệu đồng, tương đương 84,43%, còn phần tiếng Anh ghi 84.827 triệu đồng và 81,15%, đúng bằng số liệu của báo cáo riêng lẻ.
Cuối kỳ, tổng tài sản Vietbank đạt 204.824.910 triệu đồng, tăng 4,09% so với đầu năm. Vốn chủ sở hữu tương đương 6,42% tổng tài sản. Lãi cơ bản trên cổ phiếu sáu tháng của Vietbank là 697 đồng, so với 574 đồng cùng kỳ.











