Vĩnh Long huy động nguồn lực phát triển chuỗi giá trị nông sản chủ lực
Từ lợi thế vùng nguyên liệu đến yêu cầu chế biến sâu, mở rộng thị trường xuất khẩu, Vĩnh Long xác định doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong tổ chức chuỗi giá trị; đồng thời tăng cường liên kết với nhà khoa học, viện, trường và hợp tác xã để đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào sản xuất nông nghiệp.
Lấy nhu cầu doanh nghiệp, thị trường làm điểm xuất phát
Trong bối cảnh thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, sản xuất nông nghiệp không thể chỉ tập trung nâng sản lượng. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ cần gắn với nhu cầu thực tế, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.
Thời gian qua, tỉnh tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học, hợp tác xã và người nông dân; trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong tổ chức chuỗi giá trị và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Vĩnh Long có không gian phát triển rộng lớn hơn, với lợi thế về nông nghiệp và hệ thống vùng nguyên liệu đa dạng.
Vĩnh Long hiện có 832 vùng trồng và cơ sở đóng gói được cấp mã số, trong đó 664 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Australia. Tỉnh có 11 chỉ dẫn địa lý. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ đã tạo ra 15 giống mới, xây dựng 274 mô hình, 425 quy trình và giải pháp công nghệ; có 13 giải pháp, sáng chế được công nhận và 36 sản phẩm được thương mại hóa.
Một trong những kinh nghiệm được tỉnh xác định là lấy nhu cầu doanh nghiệp và thị trường làm cơ sở xác định nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu, đặt hàng nghiên cứu đến tiếp nhận, ứng dụng và thương mại hóa kết quả. Với các ngành hàng chủ lực, những vấn đề cần tập trung giải quyết gồm chất lượng nguyên liệu, chi phí sản xuất, bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường.

Công nghệ nuôi cấy mô được đánh giá là bước đi chiến lược để quản lý, khai thác và phát triển giống.
Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới là ví dụ về gắn nghiên cứu, ứng dụng công nghệ với sản xuất và xuất khẩu. Doanh nghiệp đã làm chủ công nghệ sơ chế, bảo quản, tiệt trùng UHT và đóng gói vô trùng sản phẩm nước dừa, xuất khẩu đến hơn 65 quốc gia, vùng lãnh thổ. Năm 2025, doanh thu đạt trên 4.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu trực tiếp trên 130 triệu USD. 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu đạt khoảng 2.600 tỷ đồng, xuất khẩu chiếm khoảng 80%.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dừa của tỉnh ước đạt khoảng 500 triệu USD, tăng 2,9% so với năm 2024. 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dừa đạt khoảng 616 triệu USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ. Chuỗi liên kết ngành dừa có 36 hợp tác xã và 36 tổ hợp tác.
Liên kết đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất
Vĩnh Long chú trọng phát huy vai trò của các bên trong chuỗi liên kết. Nhà nước hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm nghiệm và xây dựng mô hình ban đầu; doanh nghiệp đóng góp vốn, thiết bị, nhân lực, vùng nguyên liệu và thị trường; nhà khoa học giải quyết bài toán công nghệ; hợp tác xã tổ chức sản xuất, kết nối doanh nghiệp với người dân.
Trong đó, hợp tác xã là cầu nối quan trọng, giúp chuyển tải yêu cầu của doanh nghiệp đến người sản xuất, tổ chức vùng nguyên liệu đồng đều hơn về chất lượng và quy trình canh tác. Sự phối hợp giữa các bên góp phần khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và nâng cao hiệu quả liên kết tiêu thụ.

Vĩnh Long số hóa và nâng tầm nguồn giống nông nghiệp, hoa kiểng.
Công ty Chánh Thu phối hợp với các hợp tác xã Quới Sơn và Giao Long xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GlobalG.A.P. phiên bản 6, với 142 hộ tham gia; phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR Code, xúc tiến bảo hộ thương hiệu tại Hoa Kỳ và mở rộng kênh thương mại điện tử trên nền tảng Alibaba.
Năm 2025, doanh nghiệp đạt doanh thu hơn 2.200 tỷ đồng. Trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu đạt 1.780 tỷ đồng, xuất khẩu chiếm trên 80%. Mô hình cho thấy tổ chức vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn, kết hợp truy xuất nguồn gốc và phát triển kênh phân phối có ý nghĩa quan trọng trong mở rộng thị trường nông sản.
Cùng với liên kết sản xuất, tỉnh chú trọng phát triển vườn ươm doanh nghiệp, thúc đẩy kết nối nhà trường, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý. Vườn ươm doanh nghiệp Trường Đại học Trà Vinh đã hỗ trợ các dự án khởi nghiệp kết nối nhà đầu tư. Tại sự kiện Demo Day năm 2025, có 5/7 dự án khởi nghiệp được ươm tạo gọi vốn thành công.

Chợ Lách, vùng sản xuất cây giống, hoa kiểng nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Để tăng cường nguồn lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và chuyển đổi số, tỉnh đã ký kết 8 thỏa thuận hợp tác với các trường đại học, tập đoàn và doanh nghiệp. Thông qua các thỏa thuận, tỉnh hướng đến tăng cường kết nối giữa nghiên cứu và thực tiễn, thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng, thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ, hình thành các mô hình liên kết phù hợp với đặc thù từng ngành hàng và vùng nguyên liệu.
Tập trung các chuỗi giá trị có lợi thế
Theo Ban Chỉ đạo 57 tỉnh Vĩnh Long, bên cạnh những nền tảng bước đầu, sản xuất ở một số nơi còn phân tán; chất lượng, tiêu chuẩn và dữ liệu truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ; năng lực bảo quản, chế biến sâu và liên kết tiêu thụ còn hạn chế. Những vấn đề này đòi hỏi tỉnh tiếp tục huy động nguồn lực, tăng cường hợp tác với viện, trường và các tập đoàn công nghệ để làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Vĩnh Long xác định ưu tiên phát triển các chuỗi giá trị có lợi thế, gồm dừa chế biến sâu; lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải; sầu riêng, bưởi và các cây ăn trái chủ lực; cây giống, hoa kiểng Chợ Lách; cá tra, tôm càng xanh, nghêu, sò huyết, cua biển; cùng các sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương.
Đối với từng chuỗi, tỉnh định hướng lựa chọn doanh nghiệp có nhu cầu thực tế, thị trường, năng lực công nghệ, khả năng đầu tư và cam kết đồng hành lâu dài với vùng nguyên liệu. Trên cơ sở đó, các bên cùng xác định bài toán, xây dựng và triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ phù hợp, bảo đảm kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng, tạo ra giá trị thực tiễn.

