Vụ gian lận dữ liệu quan trắc: Rủi ro đáng báo động khi 'la bàn' môi trường bị thao túng
Sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường tại nhiều trạm cho thấy lỗ hổng quản lý, kéo theo rủi ro cho cảnh báo ô nhiễm và sức khỏe cộng đồng.
Mới đây, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố 74 bị can liên quan sai phạm trong hoạt động quan trắc môi trường tại nhiều tỉnh, thành. Đáng chú ý, các sai phạm không chỉ xuất phát từ doanh nghiệp xả thải mà còn có sự tham gia của một số cán bộ quản lý, với thủ đoạn can thiệp dữ liệu tinh vi nhằm “hợp thức hóa” các chỉ số môi trường.



3 trong 74 bị can liên quan việc can thiệp trực tiếp vào hệ thống quan trắc môi trường vừa bị Cơ quan CSĐT Bộ Công an khởi tố. Ảnh: VTV
Vụ việc đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của dư luận khi liên quan trực tiếp đến chất lượng môi trường sống và sức khỏe cộng đồng.
Nhiều ý kiến bạn đọc bày tỏ lo ngại, đồng thời đưa ra những đề xuất nhằm siết chặt quản lý, tăng tính minh bạch của hệ thống quan trắc hiện nay.
Đề xuất minh bạch dữ liệu
Bạn đọc Nguyễn Văn Hà (TP.HCM) cho biết bản thân cảm thấy lo lắng vì những dữ liệu vốn được xem là cơ sở để cảnh báo môi trường lại có thể bị chỉnh sửa.
Theo ông, nếu các chỉ số về không khí, nguồn nước không còn đáng tin cậy thì người dân gần như mất đi “la bàn” để tự bảo vệ sức khỏe.
“Trong bối cảnh ô nhiễm ngày càng phức tạp, việc minh bạch dữ liệu phải được xem là yêu cầu bắt buộc, không thể để phụ thuộc hoàn toàn vào báo cáo một chiều từ doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý” - ông Hà nói.

Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường xác định có gần 160 trạm quan trắc bị can thiệp, làm sai lệch dữ liệu (chiếm gần 55% tổng số trạm trên toàn quốc). Ảnh: NHƯ NGỌC
Bà Lê Thị Mai (TP.HCM) thẳng thắn cho rằng vụ việc cho thấy dấu hiệu không chỉ là sai phạm đơn lẻ mà tồn tại sự buông lỏng quản lý trong thời gian dài.
Theo bà, phải xử lý nghiêm doanh nghiệp, làm rõ trách nhiệm của các cá nhân trong cơ quan quản lý để tạo sự răn đe.
“Hệ thống quan trắc vốn được đầu tư để bảo vệ môi trường nhưng lại bị lợi dụng thì cần phải rà soát toàn diện. Việc xử lý cần công khai, minh bạch để người dân thấy rõ trách nhiệm thuộc về ai, từ đó mới có thể khôi phục niềm tin” - bà Mai nói.
Ở góc nhìn cá nhân, anh Trần Quốc Dũng (TP.HCM) cho rằng giải pháp lâu dài không chỉ nằm ở xử lý vi phạm mà cần thay đổi cách vận hành hệ thống.
Anh đề xuất nên công khai dữ liệu quan trắc theo thời gian thực để người dân, nhà khoa học và các tổ chức độc lập có thể cùng giám sát.
“Khi thông tin được mở rộng, khả năng gian lận sẽ giảm đáng kể vì có nhiều lớp kiểm tra hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý việc công khai phải đi kèm hướng dẫn để tránh hiểu sai số liệu, hạn chế tình trạng lan truyền thông tin chưa kiểm chứng gây hoang mang dư luận” - anh Dũng cho hay.
Kiến nghị siết chặt kiểm soát
Trao đổi với PV, PGS.TS Lê Anh Tuấn, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ, cho rằng phần lớn các nhà khoa học sẽ dựa vào số liệu quan trắc về môi trường để đưa ra những đề xuất, giải pháp để ứng phó và cảnh báo người dân.
Điển hình có một dòng sông đang bị ô nhiễm, các chuyên gia sẽ dựa vào số liệu quan trắc để đưa ra nguy cơ ô nhiễm công nghiệp, ô nhiễm sản xuất hay vấn đề khác, từ đó sẽ có cảnh báo cho người dân để người dân biết có nên sử dụng nước sinh hoạt hay không, từ đó đảm bảo sức khỏe người dân.
Chính vì vậy việc đưa ra số liệu quan trắc sai lệch sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất cũng như sức khỏe người dân. Do đó những người làm nhiệm vụ quan trắc rất quan trọng, nên có trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cũng như bảo vệ hệ sinh thái.
"Hiện nay hệ thống quan trắc chúng ta nên đa dạng hơn, có thêm có trạm quan trắc tự động sẽ khách quan hơn. Đồng thời hệ thống quan trắc nên có thực hiện kiểm tra chéo để đảm bảo đúng số liệu.
Hơn nữa cần có thêm cơ quan kiểm tra khác để kiểm tra các số liệu đột xuất nhằm đảm bảo tính khách quan. Chúng ta đang trong kỷ nguyên số, do đó cần áp dụng các công nghệ vào quan trắc để ngăn cản bớt những sai phạm"- PGS.TS Lê Anh Tuấn đề xuất.

Có hơn 50% số trạm quan trắc bị can thiệp cho thấy đây không còn là hiện tượng cá biệt. Ảnh: NHƯ NGỌC
Đồng tình vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế tuần hoàn, nguyên Giám đốc Trung tâm Quản lý nước và biến đổi khí hậu, Viện Môi trường Tài nguyên (ĐH Quốc gia TP.HCM), cũng cho rằng việc sai phạm về quan trắc môi trường là thực trạng rất đáng báo động.
Số liệu quan trắc không đúng cơ quan quản lý sẽ không đưa ra các cảnh báo hoặc biện pháp điều chỉnh kịp thời, điều này dẫn đến việc môi trường bị tàn phá, thậm chí là ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
“Để không còn những khoảng trống cho gian lận, chúng ta cần một thay đổi việc quản lý. Trong đó Nhà nước cần tiên phong áp dụng công nghệ quan trắc tự động. Đồng thời, cần xây dựng một cơ chế giám sát chéo, nơi các đơn vị quan trắc độc lập và cộng đồng dân cư được quyền tiếp cận dữ liệu thời gian thực để đối soát” - PGS.TS Nguyễn Hồng Quân kiến nghị.
Nguy cơ khủng hoảng niềm tin
Khi cả doanh nghiệp lẫn một bộ phận cán bộ quản lý cùng bị khởi tố, niềm tin của người dân không chỉ suy giảm đối với từng chủ thể riêng lẻ mà còn bị lung lay ở cấp độ hệ thống.
Bởi lẽ, hệ thống quan trắc môi trường vốn được thiết kế như một hàng rào kỹ thuật khách quan, nhưng việc dữ liệu có thể bị can thiệp có chủ đích, người dân sẽ đặt nghi vấn về tính minh bạch, tính độc lập của toàn bộ quy trình giám sát.
Điều này dễ dẫn đến cảm giác cho rằng sai phạm không còn là hiện tượng cá biệt mà đã trở thành lỗ hổng mang tính cấu trúc. Trong truyền thông, trường hợp này là dạng khủng hoảng niềm tin rất khó khắc phục.
Một khi niềm tin bị suy giảm, xã hội thường sẽ xuất hiện những phản ứng đa chiều, phức tạp. Ở góc độ tâm lý, người dân dễ rơi vào trạng thái bất an, lo ngại về chất lượng môi trường sống, đặc biệt là những yếu tố gắn trực tiếp với sức khỏe như không khí, nguồn nước.
Còn xét về hành vi, có thể xuất hiện xu hướng tự bảo vệ. Chẳng hạn như người dân tự trang bị thiết bị đo lường, chia sẻ thông tin trên mạng xã hội hoặc tẩy chay những doanh nghiệp bị nghi ngờ.
Tuy nhiên, nếu các hành vi này diễn ra trong bối cảnh thiếu thông tin kiểm chứng, có nguy cơ dẫn đến phản ứng tiêu cực như lan truyền tin tức chưa xác thực, gây hoang mang dư luận.
Về lâu dài, sẽ làm sự đứt gãy niềm tin vào thể chế quản lý, khiến mọi thông tin chính thống về môi trường đều bị hoài nghi, từ đó làm gia tăng chi phí truyền thông, cũng như cản trở việc triển khai các chính sách công.
Do đó, vụ việc cần được xử lý một cách triệt để nhằm lấy lại niềm tin cho người dân vào tính đúng đắn của các hoạt động quản lý nhà nước.
ThS TRẦN XUÂN TIẾN, Chuyên gia Báo chí Truyền thông, Trường ĐH Văn Hiến
THẢO HIỀN ghi











