Vũ Hán kể câu chuyện 'thành phố bọt biển'
Giữa những đợt nắng nóng và mưa cực đoan, sông, hồ, đất ngập nước và công viên đang vượt khỏi vai trò cảnh quan. Khả năng giữ nước, làm chậm dòng chảy và hạ nhiệt đang biến những không gian này thành một dạng “hạ tầng khí hậu” của đô thị.
Vũ Hán đang trở thành một thử nghiệm đáng chú ý cho cách tiếp cận này, khi tại thành phố nằm giữa sông Dương Tử, sông Hán và một hệ thống hồ dày đặc, các khoảng xanh và mặt nước được tổ chức để đồng thời ứng phó với hai sức ép ngày càng lớn: ngập nước và nắng nóng.
“Thành phố bọt biển” ứng phó khí hậu cực đoan
Năm 2015, Vũ Hán nằm trong nhóm 16 đô thị đầu tiên được Trung Quốc lựa chọn thí điểm chương trình “thành phố bọt biển”. Thay vì tìm cách đưa nước mưa xuống hệ thống cống càng nhanh càng tốt, mô hình này hướng tới việc để đô thị hấp thụ, lưu giữ, làm sạch và giải phóng nước từ từ.
Trong giai đoạn thí điểm, hai khu Thanh Sơn và Tư Tâm triển khai 288 dự án trên diện tích khoảng 38,5km². Công viên, đường sá, khu dân cư và không gian công cộng được bổ sung bãi cỏ trũng, rãnh thực vật, bề mặt thấm nước và các khu vực lưu giữ nước. Theo chính quyền Vũ Hán, đến cuối năm 2020, khoảng 20% diện tích xây dựng của thành phố đáp ứng các yêu cầu về “thành phố bọt biển”.

Công viên Vân Hồ là công viên hồ cộng đồng lớn nhất thành phố Vũ Hán. Ảnh: baidu.com
Công viên Vân Hồ cho thấy rõ cách một không gian xanh có thể đảm nhiệm nhiều chức năng. Khu vực trước đây chủ yếu là đất thấp, ao cá và đất bỏ trống được cải tạo thành công viên rộng khoảng 200.000m², trong đó có 73.000m² mặt nước và 84.000m² cây xanh. Theo chính quyền Vũ Hán, công viên có khả năng điều tiết gần 30.000m³ nước mưa và phục vụ gần 100.000 cư dân quanh khu vực.
Kiến trúc sư cảnh quan Yu Kongjian, Giáo sư Đại học Bắc Kinh và là một trong những người thúc đẩy tư tưởng “thành phố bọt biển” tại Trung Quốc, nhiều năm qua cho rằng thay vì tìm cách đẩy nước ra khỏi đô thị thật nhanh, cần giữ nước lại, làm chậm dòng chảy và tận dụng các quá trình tự nhiên để thích ứng.
Nhưng giữ nước chỉ là một phần chức năng của mạng lưới xanh và mặt nước. Trong một đô thị thường xuyên đối mặt với những đợt nắng nóng, các không gian này còn góp phần điều hòa nhiệt độ.
Nghiên cứu của Qijiao Xie và Jing Li thuộc Đại học Hồ Bắc công bố năm 2021, sử dụng dữ liệu viễn thám để khảo sát 40 công viên tại Vũ Hán, cho thấy 36 công viên tạo hiệu ứng làm mát. Mức chênh lệch nhiệt độ bề mặt so với khu vực xung quanh dao động từ 0,08 đến 7,29°C. Trong mẫu nghiên cứu, mặt nước là yếu tố có đóng góp lớn nhất vào hiệu ứng này.
Một nghiên cứu khác công bố năm 2022, khảo sát 60 công viên tại Vũ Hán trong điều kiện nắng nóng cực đoan, ghi nhận 54 công viên có hiệu ứng làm mát đáng kể, với cường độ trung bình khoảng 3,5°C. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận lợi ích này của cư dân có sự chênh lệch rõ giữa khu vực trung tâm và ngoại ô.

Một hồ nước tự nhiên giúp tích trữ lượng mưa trong hành lang sinh thái ở thành phố. Ảnh: Qiushi
Giá trị lớn hơn từ những “khoảng xanh”
Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy không phải loại hình không gian xanh nào cũng mang lại hiệu quả như nhau. Tháng 8-2026, một nghiên cứu theo dõi 143 công viên tại Vũ Hán, trong đó có 65 công viên đất ngập nước, trong giai đoạn 2013-2023 cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các loại hình.
Sau khi đi vào hoạt động, các công viên đất ngập nước làm giảm nhiệt độ bề mặt khu vực xung quanh thêm trung bình khoảng 0,55°C so với công viên thông thường và mở rộng phạm vi tác động làm mát thêm khoảng 44,45m. Hình dạng và chu vi công viên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả này.
Kết quả đó cũng cho thấy việc bổ sung hồ hay cây xanh không tự động khiến đô thị mát hơn. Hiệu quả phụ thuộc vào cách bố trí mặt nước, cây xanh, quy mô công viên và mật độ xây dựng xung quanh. Một công viên có khả năng làm mát tốt cũng khó phát huy hết giá trị nếu những nhóm dân cư chịu rủi ro cao nhất do nắng nóng lại khó tiếp cận.
Đó cũng là giới hạn cần nhìn nhận khi nói về “thành phố bọt biển”. Công viên, hồ và đất ngập nước có thể hỗ trợ hệ thống thoát nước và điều hòa vi khí hậu, nhưng không thể thay thế hoàn toàn cống thoát nước, hồ điều hòa hay các công trình kỹ thuật khác. Hiệu quả của mô hình còn phụ thuộc vào cách toàn bộ đô thị được quy hoạch và phát triển.
Vì thế, vấn đề không chỉ nằm ở việc dành thêm đất cho công viên, mà ở vị trí của những không gian này trong quy hoạch. Sông, hồ, vùng đất ngập nước và hành lang cây xanh cần được tính tới ngay từ đầu như một phần của hệ thống hạ tầng đô thị, thay vì chỉ là phần đất dành cho cảnh quan sau khi đường sá và các khu xây dựng đã được bố trí.
Trong bối cảnh các đô thị ngày càng phải đối mặt đồng thời với nắng nóng và mưa cực đoan, giá trị của một công viên ven sông không chỉ nằm ở cảnh quan, mà còn ở khả năng giữ nước, giảm nhiệt và phục vụ được bao nhiêu người. Những khoảng xanh vì thế đang trở thành một phần ngày càng quan trọng của hạ tầng thích ứng khí hậu đô thị.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/vu-han-ke-cau-chuyen-thanh-pho-bot-bien-1758118.html

