Vụ sai lệch hồ sơ, rừng tự nhiên 'chảy máu' tại Quảng Trị: Nút thắt vẫn chưa được xử lý
Sau loạt bài "Sai lệch hồ sơ, rừng tự nhiên chảy máu", hơn 5 tháng sau khi phát hiện hàng loạt điểm tác động đến rừng tại xã Bố Trạch (Quảng Trị), việc xác minh, xử lý vụ việc vẫn chưa thể khép lại.

Các tổ tuần tra liên ngành kiểm tra hiện trạng phá rừng tại xã Bố Trạch (Quảng Trị).
Đằng sau những diện tích rừng bị tác động là sự "sai lệch" kéo dài giữa hồ sơ đất đai và hồ sơ lâm nghiệp, khiến việc xác định nguồn gốc, trạng thái rừng cũng như trách nhiệm trong từng giai đoạn quản lý gặp không ít khó khăn; việc xử lý các trường hợp vi phạm tác động đến rừng vẫn bỏ ngỏ.
Nghịch lý kéo dài qua nhiều giai đoạn quản lý
Trước đó, TTXVN đã có loạt bài "Sai lệch hồ sơ, rừng tự nhiên chảy máu" phản ánh tình trạng chặt phá rừng tại xã Bố Trạch, Quảng Trị. Cụ thể, từ cuối tháng 3/2026, Trạm Kiểm lâm Xuân Sơn (Hạt Kiểm lâm Bố Trạch) phát hiện nhiều điểm có dấu hiệu tác động đến rừng trên địa bàn xã Bố Trạch. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng xác định có 23 điểm thay đổi với tổng diện tích 28,81 ha; trong đó, 20 điểm đã bị tác động với diện tích 23,64 ha và 3 điểm đang được phát dọn với diện tích 5,17 ha.
Sau hơn 5 tháng, việc xác minh, xử lý vẫn đang được các cơ quan chức năng tiếp tục thực hiện. Theo ông Đoàn Văn Ngãi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bố Trạch, qua quá trình xác minh, có 3 vụ việc có dấu hiệu vi phạm. Trong đó, 2 vụ có diện tích rừng bị tác động trên 0,5 ha, đơn vị đã lập hồ sơ để thông báo nguồn tin về tội phạm đến Viện Kiểm sát; trường hợp còn lại đã được lập hồ sơ vi phạm hành chính và chuyển UBND xã xử lý theo thẩm quyền.
Điều đáng chú ý là những khó khăn trong xử lý không chỉ nằm ở việc xác định hành vi tác động đến rừng, mà còn liên quan đến chính lịch sử quản lý, sử dụng diện tích đất này.
Ông Phan Ngọc Lâm, Phó Chủ tịch UBND xã Bố Trạch cho biết, theo rà soát của UBND xã Bố Trạch, năm 2009, UBND tỉnh Quảng Bình (cũ) ban hành Quyết định số 1961/QĐ-UBND thu hồi 453,10 ha đất từ Công ty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình, giao 453,10 ha cho UBND xã Hưng Trạch cũ trước đây quản lý, tổ chức giao cho gia đình, cá nhân; đồng thời giao 41,70 ha cho UBND xã Cự Nẫm trước đây. Tại thời điểm bàn giao, diện tích này được xác định là đất rừng sản xuất, chủ yếu là rừng trồng.
Tuy nhiên, do chưa có kinh phí để đo đạc, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc giao đất không được thực hiện ngay. Sau đó, diện tích này được đưa vào Dự án vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Năm 2012, Trung tâm Quy hoạch thiết kế nông lâm nghiệp Quảng Bình lập thiết kế trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên trên diện tích 263,70 ha, với sự tham gia của 157 hộ dân.
Đến năm 2013, trên cơ sở Quyết định 1961, thiết kế dự án và phương án giao đất của địa phương, huyện Bố Trạch trước đây đã giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 146 hộ. Trong giấy chứng nhận, loại đất được xác định là "đất có rừng trồng sản xuất (RST)".
Nhưng từ năm 2016, thông qua công tác theo dõi diễn biến rừng hàng năm, Kiểm lâm xác định nhiều diện tích trong số này đã chuyển thành rừng tự nhiên và được huyện Bố Trạch cũ, sau này là UBND xã Bố Trạch xác nhận hàng năm. Ngày 22/1/2026, UBND xã Bố Trạch phê duyệt kết quả theo dõi diễn biến rừng, công bố hiện trạng rừng năm 2025. Theo đó, có 146,46 ha do hộ gia đình, cá nhân quản lý được xác định là rừng tự nhiên.
Như vậy, ngay trước thời điểm phát hiện vụ việc tác động đến rừng, cùng một diện tích đất lại tồn tại hai cách thể hiện khác nhau trong hệ thống hồ sơ: hồ sơ lâm nghiệp xác định là rừng tự nhiên, trong khi nhiều Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn thể hiện đất có rừng trồng sản xuất. Đây chính là nghịch lý kéo dài qua nhiều giai đoạn quản lý và hiện trở thành một trong những vấn đề cần được làm rõ để xử lý dứt điểm vụ việc.
"Sai lệch" hồ sơ, nút thắt chưa xử lý
Sự khác biệt giữa hồ sơ đất đai và hồ sơ lâm nghiệp đặt ra câu hỏi: Khi xảy ra hành vi tác động đến diện tích rừng được cơ quan Kiểm lâm xác định là rừng tự nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi "rừng trồng sản xuất" sẽ được xem xét như thế nào?
Theo ông Trần Hiệp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị, nguồn gốc đất thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một căn cứ cần xem xét, nhưng không phải căn cứ duy nhất để xác định trạng thái rừng.
"Quá trình hình thành rừng, kết quả theo dõi diễn biến rừng qua các năm và hiện trạng trước thời điểm xảy ra tác động đều phải được xem xét đầy đủ", ông Trần Hiệp cho biết.
Từ đây, một ranh giới quan trọng trong xử lý vụ việc được đặt ra: rà soát, điều chỉnh hồ sơ để phản ánh đúng lịch sử, nguồn gốc và trạng thái rừng hoàn toàn khác với việc điều chỉnh hồ sơ theo hiện trạng mới được tạo ra sau khi rừng đã bị tác động.
Theo ông Nguyễn Văn Long, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị, việc rà soát, điều chỉnh hồ sơ phải bảo đảm không chạy theo hiện trạng mới phát sinh sau khi rừng bị tác động. Nếu một diện tích rừng tự nhiên bị phát dọn, sau đó lấy chính hiện trạng sau tác động làm căn cứ để xác định lại loại rừng hoặc điều chỉnh hồ sơ thì vô hình trung lịch sử khu rừng có thể bị xóa khỏi hồ sơ quản lý, trái quy định của Luật Lâm nghiệp. Khi đó, hành vi tác động trước đó có nguy cơ bị biến thành căn cứ để hợp thức hóa hiện trạng mới.
Kết quả theo dõi diễn biến rừng hàng năm là một căn cứ quan trọng để quản lý rừng, nhưng không thể chỉ nhìn vào hiện trạng sau khi xảy ra tác động để xác định nguồn gốc và trạng thái khu rừng. Theo ông Nguyễn Văn Long, cần xem xét tổng thể quá trình hình thành rừng, hồ sơ Dự án vùng đệm, phương án giao đất, thiết kế lâm sinh và diễn biến rừng qua từng năm.
Đặc biệt, Dự án vùng đệm Phong Nha-Kẻ Bàng trước đây không chỉ có nội dung trồng rừng mà còn thực hiện khoanh nuôi, hỗ trợ tái sinh rừng tự nhiên. Vì vậy, có những diện tích ban đầu được xác định là đất rừng sản xuất nhưng sau quá trình được bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh có thể hình thành trạng thái rừng tự nhiên và được cập nhật qua công tác theo dõi diễn biến rừng hàng năm.
"Phải xác định được rừng hình thành như thế nào, từ thời điểm nào, qua các lần theo dõi diễn biến rừng ra sao và trước thời điểm bị tác động đang được xác định là loại rừng gì. Không thể lấy hiện trạng sau khi rừng bị tác động để quay ngược lại xác định lịch sử của rừng," ông Nguyễn Văn Long nêu rõ.
Hiện Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị đang yêu cầu Hạt Kiểm lâm Bố Trạch tiếp tục rà soát hồ sơ Dự án vùng đệm, hồ sơ giao đất và lịch sử theo dõi diễn biến rừng để làm rõ từng khu vực. Thực tế cho thấy, đây không phải lần đầu những vướng mắc từ sự không thống nhất giữa hồ sơ đất đai và hồ sơ lâm nghiệp xuất hiện tại khu vực này.
Bởi từ năm 2024, cơ quan chức năng từng phát hiện một trường hợp tác động hơn 2,4 ha rừng và đã lập hồ sơ. Tuy nhiên, vụ việc không được xử lý hình sự do còn vướng căn cứ pháp lý; trong đó, có vấn đề giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi loại đất có rừng trồng sản xuất.
Đến năm 2025, một số diện tích tiếp tục bị tác động và cuối tháng 3/2026, hàng loạt điểm biến động tiếp tục được phát hiện. Diễn biến này cho thấy, nếu "sai lệch" giữa hồ sơ đất đai và hồ sơ lâm nghiệp không được xử lý dứt điểm, việc quản lý rừng không chỉ tiếp tục gặp khó mà nguy cơ tái diễn vi phạm vẫn còn.
Vấn đề vì thế không còn đơn thuần là xử lý những diện tích rừng đã bị tác động, mà phải làm rõ lịch sử hình thành rừng, quá trình biến đổi trạng thái rừng và trách nhiệm cập nhật, thống nhất hồ sơ qua từng thời kỳ.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị Nguyễn Văn Long cho biết, sau khi phát hiện các vụ việc tác động đến rừng tự nhiên, những bất cập trong hồ sơ và quá trình xác minh vụ việc, Chi cục đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Bố Trạch phối hợp cùng chính quyền UBND xã tổ chức rà soát, tổng hợp các nội dung liên quan và báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường để tham mưu UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo hướng xử lý đối với những vướng mắc về hồ sơ đất đai, hồ sơ lâm nghiệp cũng như thẩm quyền xử lý các diện tích rừng bị tác động.
Tuy nhiên thực tế, đến nay sau hơn 5 tháng, vụ việc vẫn chưa được UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và môi trường Quảng Trị quyết liệt chỉ đạo để xử lý dứt điểm. Những vướng mắc kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ xử lý các hành vi vi phạm mà còn làm gia tăng nguy cơ tiếp tục phát sinh vi phạm nếu các "điểm nghẽn" về hồ sơ, trách nhiệm quản lý và cơ chế xử lý không sớm được tháo gỡ.
Chỉ đạo đã rõ, trách nhiệm cần được làm rõ
Từ vụ việc chặt phá rừng tại xã Bố Trạch có thể thấy, một vụ tác động đến rừng không chỉ đặt ra trách nhiệm đối với người trực tiếp thực hiện hành vi, mà còn đặt ra yêu cầu nhìn lại hiệu quả quản lý trên toàn bộ quá trình. Khi cùng một diện tích đất tồn tại những thông tin khác nhau trong các hệ thống hồ sơ, câu hỏi về trách nhiệm không thể chỉ được đặt ra ở thời điểm rừng bị tác động.
Ngày 24/7/2026, UBND tỉnh Quảng Trị ban hành Công văn số 3675/UBND-NNMT về tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. UBND tỉnh yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra, theo dõi, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi phá rừng, khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép, lấn chiếm đất rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp trái quy định.
Đáng chú ý, UBND tỉnh yêu cầu làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu nếu để xảy ra vi phạm trong phạm vi quản lý. Đây là yêu cầu không chỉ đối với việc xử lý một vụ việc cụ thể, mà còn là yêu cầu về trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát và kịp thời khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình quản lý rừng.
Với vụ việc chặt phá rừng tại xã Bố Trạch, chỉ đạo này càng cho thấy yêu cầu phải nhìn nhận vấn đề ở phạm vi rộng hơn. Nếu hồ sơ đất đai và hồ sơ lâm nghiệp đã có sự "sai lệch" trong một thời gian dài, thì trách nhiệm không thể chỉ được xem xét từ thời điểm xảy ra hành vi tác động đến rừng.
Cần làm rõ sự "sai lệch" đó bắt đầu từ khâu nào, tồn tại qua những giai đoạn quản lý nào và vì sao không được phát hiện, xử lý, thống nhất kịp thời. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý rừng, theo dõi diễn biến rừng và cập nhật hồ sơ.
Đây là vấn đề có ý nghĩa không chỉ đối với vụ việc đang được xử lý, mà còn đối với công tác quản lý những diện tích rừng có nguồn gốc, quá trình hình thành và biến động phức tạp. Bởi khi hồ sơ quản lý không phản ánh thống nhất lịch sử và trạng thái rừng, người dân, cơ quan quản lý và lực lượng thực thi pháp luật đều có thể gặp khó khăn khi xác định căn cứ xử lý; trong khi nguy cơ những khoảng trống ấy tiếp tục bị lợi dụng vẫn còn.
Vì vậy, việc rà soát, thống nhất hồ sơ đối với khu vực này cần được thực hiện đến cùng, không chỉ để phục vụ xử lý những trường hợp đã xảy ra mà còn để xác lập rõ ràng trạng thái, nguồn gốc và trách nhiệm quản lý đối với từng diện tích. Cùng với đó, những bất cập được phát hiện trong quá trình rà soát cũng cần được khắc phục, thay vì để tiếp tục tồn tại và trở thành nguyên nhân của những vụ việc mới.
Một vụ việc có thể xác định được người trực tiếp tác động đến rừng, nhưng để ngăn vi phạm tái diễn thì phải xác định được cả những khoảng trống quản lý đã tạo điều kiện để vụ việc xảy ra. Đó cũng là thước đo đối với trách nhiệm của cơ quan quản lý: không chỉ phát hiện khi rừng đã bị tác động, mà phải nhận diện được nguy cơ từ trước và xử lý những bất cập trong hồ sơ, trong quản lý địa bàn.
Chỉ đạo của UBND tỉnh đã rõ. Vấn đề còn lại là cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện đến đâu, những tồn tại được phát hiện có được xử lý đến cùng hay không và trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan có được xác định cụ thể hay không.
Xử lý người trực tiếp tác động đến rừng là yêu cầu trước mắt; làm rõ vì sao "sai lệch" hồ sơ tồn tại, ai có trách nhiệm khắc phục và làm thế nào để không tái diễn mới là yêu cầu lâu dài. Khi trách nhiệm được xác định rõ, hồ sơ được thống nhất và lịch sử khu rừng được làm rõ, những "điểm mù" trong quản lý mới thực sự được lấp đầy.

