Vun đắp niềm tin, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực để tăng trưởng bứt tốc
Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng yêu cầu phấn đấu đạt tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Để đạt mục tiêu này, TS. VÕ TRÍ THÀNH, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cho rằng cần xây đắp niềm tin, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đặc biệt từ khu vực tư nhân.
“Phải làm gì thêm với những động lực hiện có?”
- Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng yêu cầu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Nhìn từ bức tranh tăng trưởng năm 2025, chúng ta đang có những thuận lợi và khó khăn nào, thưa ông?

- Có nhiều cách tiếp cận khi bàn về tăng trưởng. Cách quen thuộc là nhìn từ phía tổng cầu, tức tiêu dùng, đầu tư và thương mại, đặc biệt là xuất khẩu. Đây là những động lực truyền thống của tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế năm 2025, có thể thấy bức tranh này không hoàn toàn thuận lợi. Tiêu dùng, cụ thể là bán lẻ nếu loại trừ yếu tố giá thì 6,7 - 6,8%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đầu tư có cải thiện, nhất là đầu tư công, với những chuyển biến khá rõ nét, dù vẫn chưa đạt 100% chỉ tiêu Thủ tướng giao. Điểm sáng đáng chú ý là giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước hơn 27,6 tỷ USD, tăng trên 9%. Đầu tư tư nhân - mức tăng đã tốt lên nhưng vẫn chưa đạt kỳ vọng.
Trong bối cảnh đó, động lực nổi bật nhất thời gian qua vẫn là xuất khẩu gắn với công nghiệp chế biến, chế tạo - lĩnh vực tiếp tục giữ vai trò trụ cột khi tăng trưởng duy trì ở mức cao, hơn 9%. Đồng thời, một số ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, viễn thông và đặc biệt là du lịch đang phục hồi tích cực, tạo thêm dư địa cải thiện tăng trưởng.
Vấn đề đặt ra là muốn tăng trưởng hai con số, chúng ta phải làm gì thêm với những động lực hiện có?
- Nhìn từ phía tổng cung của nền kinh tế thì sao, thưa ông?
- Từ phía tổng cung, tăng trưởng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: lao động, vốn, công nghệ, quản trị, đất đai và mặt bằng sản xuất.
Về công nghệ, chúng ta đã có chuyển biến nhưng cần thời gian để phát huy đầy đủ hiệu quả. Chúng ta đã có rất nhiều đột phá nhưng vấn đề thực thi vẫn là câu chuyện cần bàn. Chuyển đổi số là ví dụ điển hình. Mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP, nhưng theo Cục Thống kê, hiện mới đạt khoảng 14%, trong đó phần lớn đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo. Các mô hình kinh doanh mới, đổi mới sáng tạo vẫn còn hạn chế.
Về lao động, dù đã có nhiều nỗ lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ vẫn dưới 30%; phần lớn lao động vẫn ở khu vực phi chính thức, với nhiều hạn chế về kỹ năng và an sinh xã hội. Trong bối cảnh mới, nhu cầu về lao động kỹ năng trung bình và cao, đặc biệt là năng lực quản trị ngày càng lớn, nhưng nguồn cung còn thiếu. Điều này gắn chặt với yêu cầu đổi mới căn bản giáo dục, đào tạo và chính sách thu hút nhân tài.
Về vốn, nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng. Chính sách tiền tệ không chỉ để hỗ trợ tăng trưởng mà còn phải bảo đảm ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài. Bài học thực tiễn cho thấy, nếu chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng thì không bền vững.
Quyết liệt hơn trong thực thi
- Ở góc độ một chuyên gia kinh tế, theo ông, điểm nhấn nổi bật nào trong dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng có thể tạo đột phá cho tăng trưởng, cả về chất lượng lẫn quy mô, trong giai đoạn tới?
- Theo tôi, điểm nhấn rất đáng chú ý trong dự thảo Báo cáo chính trị lần này là yêu cầu xây dựng các nền tảng phát triển mới, mà trọng tâm là hoàn thiện thể chế, nâng chất lượng pháp luật, đặc biệt là nâng cao năng lực thực thi. Tư duy “nói đi đôi với làm”, quyết liệt trong hành động được thể hiện rất rõ.
Đây là hướng tiếp cận đúng, bởi trong nhiều năm qua, “điểm nghẽn” không chỉ nằm ở chủ trương, mà nằm ở khâu triển khai và hiệu quả thực hiện chính sách. Việc tập trung vào các vấn đề then chốt có thể tạo đột phá sẽ giúp tăng trưởng bước sang giai đoạn chất lượng hơn, dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh, đây chính là cơ sở để nâng cao khả năng chống chịu, củng cố tính tự chủ của nền kinh tế và tăng năng lực thích ứng trong trung và dài hạn.
- Để hướng tới tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới, theo ông, đâu là “đòn bẩy” quan trọng nhất?
- Theo tôi công cụ quan trọng nhất vẫn là đầu tư công. Chúng ta còn dư địa, có các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, có thể chế mới và có quyết tâm cao. Điều này đã phần nào được phản ánh trong kết quả năm 2025 và cả nhiệm kỳ vừa qua.
Yếu tố thứ hai, mang tính nền tảng hơn, là niềm tin. Đó là niềm tin của người tiêu dùng để họ sẵn sàng chi tiêu; niềm tin của nhà đầu tư tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài, không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả kỳ vọng dài hạn. Niềm tin này gắn chặt với cải cách thể chế, ổn định kinh tế vĩ mô và các chính sách hỗ trợ phù hợp.
Xuất khẩu năm nay rất khó đạt mức tăng khoảng 15 - 16% như năm 2025; trong khi mục tiêu đặt ra khoảng 8%, tức vẫn thấp hơn ngưỡng hai con số. Điều đó cho thấy bối cảnh không hề dễ dàng. Trong khó khăn, nhiệm vụ quan trọng nhất là tạo dựng, củng cố niềm tin và huy động hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước, của xã hội, của người dân và từ bên ngoài. Tỷ lệ đầu tư trên GDP của nước ta khoảng trên 30%, trong đó đầu tư tư nhân vẫn còn nhiều dư địa. Chúng ta có tỷ lệ tiết kiệm khá cao nhưng việc chuyển hóa thành đầu tư hiệu quả vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên, không chỉ huy động, vấn đề cốt lõi là sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả.
- Từ những phân tích trên, theo ông, mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới có khả thi hay không?
- Với tất cả những yếu tố phân tích như ở trên tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao là khả thi, với điều kiện có nền tảng chính sách phù hợp và quyết liệt hơn trong thực thi. Điều quan trọng là sự khéo léo trong đối ngoại, thu hút đầu tư, tìm kiếm và đa dạng hóa thị trường, đồng thời duy trì tốt các thị trường truyền thống.
Bên cạnh việc làm mới các động lực truyền thống, cần tạo ra động lực tăng trưởng mới dựa trên đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, nâng cao kỹ năng lao động và quản trị, cũng như mở rộng không gian phát triển đa tầng từ không gian số, không gian kinh tế biển, kinh tế đêm, kinh tế đa tầng. Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cũng tạo ra dư địa mới cho tăng trưởng. Tôi thường nói vui rằng, trong nhiều trường hợp, “34 có thể lớn hơn 63” nếu xét về hiệu quả không gian phát triển!
- Xin cảm ơn ông!











