Vững gốc từ lòng Dân
Trải qua kháng chiến gian khổ và công cuộc đổi mới, phát triển hôm nay, bài học 'Dân là gốc' vẫn là giá trị cốt lõi, được khẳng định trong Đại hội II giữa khói lửa chiến tranh đến Đại hội XIV của Đảng trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng. Khi Nhân dân được đặt ở vị trí trung tâm, mọi chủ trương, quyết sách của Đảng đều có điểm tựa vững chắc để đi vào cuộc sống.
Chân lý hình thành trong lòng Dân
Giữa núi rừng Việt Bắc mùa xuân năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được tổ chức trong điều kiện vô cùng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bom đạn, thiếu thốn, hiểm nguy luôn cận kề, nhưng chính nơi đây một chân lý lớn của cách mạng Việt Nam được khẳng định và soi sáng con đường đi tới thắng lợi: Dân là gốc.
Tuyên Quang - Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến với những mái nhà sàn che chở cơ quan Trung ương, những con đường rừng in dấu chân cán bộ, chiến sĩ, những bữa cơm sẻ nửa của đồng bào các dân tộc đã trở thành biểu tượng cho mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân. Chính lòng dân nơi đây đã tạo nên thế trận vững chắc, để từ chiến khu Việt Bắc, cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi lịch sử.
Cụ Nguyễn Thị Toàn, 99 tuổi, đảng viên Chi bộ Tân Hà 9, phường Minh Xuân đang sống những ngày tháng yên bình dưới sự chăm sóc tận tình, chu đáo của các con cháu. Đảng viên Mai Văn Đồng (con trai cụ Toàn) được mẹ kể lại: Ngày ấy cụ Toàn là một nữ cán bộ trẻ của Hội Phụ nữ cứu quốc. Với cụ, Đại hội II là một luồng sinh khí mới, thổi bùng ngọn lửa quyết tâm trong huyết quản của những người cộng sản. Những quyết sách tại Kim Bình năm ấy chính là ánh đuốc soi đường cho kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Bình là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng cho nhiều thế hệ người Việt Nam.
Đại hội II không chỉ đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức, đường lối của Đảng, mà còn xác lập rõ phương thức cầm quyền cách mạng: mọi chủ trương phải xuất phát từ Nhân dân, vì Nhân dân và dựa vào Nhân dân để thực hiện. Bài học ấy được hun đúc từ thực tiễn kháng chiến và trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt các kỳ đại hội của Đảng. Hòa bình lập lại, đất nước bước vào công cuộc xây dựng và phát triển trong điều kiện mới. Với Tuyên Quang một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, bài học “Dân là gốc” tiếp tục được vận dụng linh hoạt trong suốt tiến trình đổi mới. Thực tiễn cho thấy, những chuyển biến tích cực của địa phương đều gắn liền với việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân.
Đồng chí Ma Quang Đạt, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Kim Bình chia sẻ: Trong quá trình triển khai các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, nhiều công trình, phần việc cụ thể được xã thực hiện như: Mở các tuyến đường liên thôn, giao thông được bê tông hóa, các lĩnh vực y tế, giáo dục được quan tâm đầu tư, tạo điều kiện để người dân chăm sóc sức khỏe và con em trong xã được học tập đầy đủ.
Từ Kim Bình lịch sử đến Tuyên Quang hôm nay
Không chỉ riêng ở Kim Bình, từ xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững đến phát triển hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, ở đâu người dân được bàn bạc, tham gia và giám sát, ở đó công việc triển khai thuận lợi, hiệu quả rõ rệt. Nhiều xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh đã thay đổi diện mạo nhờ cách làm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Không ít tuyến đường giao thông nông thôn được mở rộng từ chính sự tự nguyện hiến đất, góp công của người dân; nhiều mô hình sản xuất mới hình thành từ nhu cầu thực tiễn của Nhân dân, được Nhà nước hỗ trợ đúng và trúng.
Trong cải cách hành chính, Tuyên Quang từng bước lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử, chuyển đổi số không chỉ nhằm hiện đại hóa bộ máy mà trước hết là để phục vụ người dân tốt hơn, giảm phiền hà, tăng minh bạch. Những đổi thay ấy cho thấy, khi chủ trương đúng gặp lòng dân thuận, sức mạnh tổng hợp sẽ được nhân lên gấp bội.
Song thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu không được chủ quan. Ở đâu còn biểu hiện xa dân, hình thức, làm thay dân hoặc thiếu đối thoại, ở đó hiệu quả chưa cao, niềm tin bị ảnh hưởng. Chính vì vậy, bài học từ Đại hội II vẫn luôn mang tính thời sự: muốn phát triển bền vững, phải dựa vào Dân và vì Dân. Bước vào giai đoạn phát triển mới, Tuyên Quang đứng trước nhiều thời cơ lớn, nhất là trong liên kết vùng, phát triển hạ tầng, du lịch, kinh tế xanh và chuyển đổi số. Tuy nhiên, cùng với đó là không ít thách thức, đòi hỏi sự đồng thuận xã hội cao. Thực tiễn cho thấy, lòng dân chính là “nguồn lực mềm” quan trọng nhất để địa phương bứt phá.
Trong triển khai các dự án lớn, nhất là các công trình giao thông, chỉnh trang đô thị, tái định cư, công tác dân vận được đặt lên hàng đầu. Việc công khai thông tin, đối thoại trực tiếp với người dân, lắng nghe và kịp thời giải quyết kiến nghị đã giúp nhiều vướng mắc được tháo gỡ từ cơ sở, hạn chế phát sinh điểm nóng. Không ít cán bộ cơ sở xác định rõ: làm việc với dân không chỉ bằng quy định, mà bằng trách nhiệm và sự chân thành.
Đồng chí Ma Thị Nổi, Bí thư Chi bộ thôn Bó Củng, xã Kim Bình cho biết, thôn hiện có 146 hộ, 678 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Tày. Những năm qua, chi bộ đã ban hành các nghị quyết vận động Nhân dân làm đường bê tông nội đồng, xây dựng tuyến đường hoa mẫu. Với phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”, cùng sự đồng thuận của Nhân dân, thôn đã huy động xã hội hóa làm đường bê tông, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại, tăng gia sản xuất.
Giữ vững gốc rễ từ Nhân dân
Bài học “Dân là gốc” càng thể hiện rõ khi chính sách được tuyên truyền dễ hiểu, sát thực tế, phù hợp phong tục, tập quán, người dân không chỉ đồng thuận mà còn chủ động tham gia, sáng tạo cách làm phù hợp với điều kiện thực tế. Nhiều mô hình phát triển sinh kế, bảo tồn văn hóa gắn với du lịch cộng đồng ra đời từ chính sáng kiến của người dân địa phương.
Những kết quả ấy cho thấy, dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể của quá trình phát triển. Khi người dân tin tưởng, ủng hộ và đồng hành, mọi chủ trương, chính sách đều có “điểm tựa” vững chắc. Đồng chí Lê Thiện Quang, Bí thư Đảng ủy xã Kim Bình cho biết: Xã xác định rõ xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững phải gắn chặt với việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống cách mạng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đồng thuận xã hội cao.
Nếu Đại hội II diễn ra giữa khói lửa chiến tranh thì Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Bài học “Dân là gốc” tiếp tục được khẳng định là nguyên tắc bất biến, đồng thời được bổ sung những yêu cầu mới, phù hợp với thời đại số và hội nhập sâu rộng.
Với Tuyên Quang, tinh thần Đại hội XIV đặt ra yêu cầu cao hơn trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Vì vậy, Đảng bộ tỉnh đã xác định rõ: cán bộ phải gần dân hơn, hiểu dân hơn, hành động vì dân nhiều hơn. Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân; chuyển đổi số phải hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp; mọi quyết sách lớn đều phải lấy sự đồng thuận xã hội làm nền tảng.
Từ chiến khu Việt Bắc năm xưa đến Tuyên Quang hôm nay, lịch sử đã chứng minh một chân lý giản dị mà sâu sắc: Đảng mạnh khi được Nhân dân tin yêu, địa phương phát triển khi lòng dân đồng thuận. Trong kỷ nguyên mới, khi thách thức ngày càng phức tạp, bài học “Dân là gốc” càng trở nên quý giá, không chỉ như một di sản lịch sử mà là kim chỉ nam cho mọi hành động.












