Vùng Vịnh loay hoay gỡ kẹt giữa chiến sự Trung Đông
Dù không trực tiếp tham gia xung đột Trung Đông, các nước vùng Vịnh đang rơi vào thế mắc kẹt do vừa phải hứng chịu nhiều hệ quả từ các cuộc tập kích trả đũa do Iran thực hiện, vừa đối mặt với rủi ro kinh tế và các hậu quả khác nếu chiến sự kéo dài.
"Hứng đòn" tổn thất kinh tế
Iran không có năng lực tấn công tầm xa vươn tới lãnh thổ Mỹ và đang trả đũa chiến dịch của Mỹ-Israel bằng cách nhắm mục tiêu vào các cơ sở có liên quan đến Mỹ ở Trung Đông. Ngoài hai bên trực tiếp tham chiến là Israel và Iran, các quốc gia vùng Vịnh đang trở thành nhóm chịu tác động rõ rệt nhất của cuộc xung đột.

Một cơ sở lọc dầu lớn ở Arab Saudi cháy lớn, hư hại nghiêm trọng trong xung đột Trung Đông. Ảnh: Reuters
“Đây không phải là cuộc chiến của chúng tôi. Chúng tôi không muốn cuộc chiến này, nhưng chúng tôi đang phải trả giá bằng an ninh và kinh tế của mình”, Chủ tịch Trung tâm Chính sách Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) Ebtesam Al-Ketbi ngày 13/3 nói với Reuters.
Đến nay chưa có thống kê cuối cùng về thiệt hại mà các quốc gia vùng Vịnh phải gánh chịu. Giới chức UAE xác nhận, nước này đã trở thành mục tiêu của hơn 1.700 tên lửa và máy bay không người lái (UAV) do Iran phóng đi kể từ khi xung đột leo thang cách đây đúng 2 tuần.
Ngoài ra, hàng trăm UAV và tên lửa khác cũng đã đánh trúng hoặc gây thiệt hại cho một số sân bay, cảng biển, cơ sở dầu mỏ, nhà máy khử muối và các cơ sở quân sự tại Bahrain, Arab Saudi, Kuwait và Oman; gây xáo trộn nghiêm trọng tình hình an ninh.

Thống kê của AlJazeera về thiệt hại của các nước do bối cảnh bất ổn ở Trung Đông kể từ ngày 28/2 đến ngày 13/3.
Khi tên lửa và UAV xâm nhập không phận, các nước vùng Vịnh phải tiêu tốn hàng triệu USD tên lửa phòng không mỗi ngày. Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Iran thiệt hại 20.000 USD-50.000 USD cho mỗi UAV Shahed mà họ khai hỏa. Trong khi đó, vùng Vịnh sử dụng tên lửa Patriot PAC-3 có giá từ 3- 5 triệu USD mỗi quả để đánh chặn.
Theo thống kê của AlJazeera, ít nhất 19 người dân tại các nước vùng Vịnh đã thiệt mạng vì các cuộc tấn công liên quan đến xung đột, hàng chục người khác bị thương. Phần lớn nạn nhân là lao động nhập cư, nhóm chiếm tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu dân số và lực lượng lao động của khu vực. Tình hình an ninh bất ổn dẫn đến làn sóng rời khỏi vùng Vịnh của một bộ phận người lao động và nhà đầu tư, cũng để lại tác động lâu dài về kinh tế.
Các cuộc tập kích cũng làm gián đoạn hoạt động hàng hải, vận tải và thị trường năng lượng toàn cầu, trong bối cảnh vùng Vịnh đóng vai trò trung tâm của nguồn cung dầu khí thế giới.

UAV giá rẻ của Iran buộc các hệ thống phòng không ở vùng Vịnh khai hỏa đạn dược đắt tiền để đánh chặn. Ảnh: ITN
Dữ liệu từ Công ty phân tích hàng hóa Kpler cho thấy, eo biển Hormuz thường xuyên vận chuyển lượng dầu thô, sản phẩm tinh chế và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) trị giá xấp xỉ 1,2 tỷ USD mỗi ngày (tính theo giá và lưu lượng trung bình năm 2025). Từ ngày 28/2, lưu lượng vận tải qua tuyến đường này đã gần như đình trệ do các cuộc tấn công nhắm vào tàu bè và phí bảo hiểm tăng vọt.
Ngoài ra, hình ảnh yên bình và nỗ lực biến vùng Vịnh trở thành một trung tâm tài chính, kinh tế và dịch vụ toàn cầu chắc chắn chịu tác động lớn, khi cuộc xung đột cho thấy tình trạng dễ bị tổn thương của họ trước các cuộc cạnh tranh phức tạp ở Trung Đông.
Bài toán khó về hợp tác an ninh hậu xung đột
Dù Mỹ là bên khởi động xung đột, phần lớn các quan chức cấp cao vùng Vịnh đều tránh công khai đổ lỗi cho Washington. Giáo sư Fawaz Gerges thuộc Trường Kinh tế London nhận định, trong nhiều thập kỷ, quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh được xây dựng dựa trên nền tảng là các nước vùng Vịnh cung cấp năng lượng và nguồn vốn đầu tư lớn cho Mỹ, bao gồm hàng trăm tỷ USD chi cho vũ khí, công nghệ tiên tiến, cũng như hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, để đổi lấy sự bảo hộ an ninh từ Washington.
Tuy nhiên, ông Gerges khẳng định, cuộc xung đột đang diễn ra đã làm lung lay những giả định đó. Các nước vùng Vịnh có thể sẽ âm thầm đánh giá lại nền tảng của quan hệ an ninh với Mỹ. Theo ông, thời gian tới, một số nước trong khu vực sẽ đẩy nhanh hơn nữa nỗ lực đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và an ninh, bởi họ nhận thấy không thể chỉ “dựa dẫm hoàn toàn vào Mỹ để bảo vệ năng lượng, dầu mỏ, khí đốt, người dân và chủ quyền”.
Trong khi đó, Hasan Alhasan, chuyên gia cao cấp về chính sách Trung Đông tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, nói với CNN rằng, nhiều quan chức vùng Vịnh đánh giá chiến dịch mà Mỹ khởi động nhắm vào Iran cho thấy họ ưu tiên an ninh của Israel hơn an ninh của các đồng minh Arab.

Ảnh vệ tinh của Vantor cho thấy một tòa nhà cao tầng ở Bahrain hư hại nghiêm trọng do trúng hỏa lực liên quan đến xung đột Trung Đông. Ảnh: NDTV/Vantor
Cách đây ít hôm, khi đề cập đến quan hệ với Mỹ, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Qatar Majed Al Ansari khẳng định quan hệ đối tác giữa hai bên “không phải là điều bị đặt dấu hỏi”, nhưng ông thừa nhận rằng tình hình hiện nay càng củng cố nhu cầu tăng cường hợp tác an ninh giữa Qatar với Mỹ và các cường quốc ở châu Âu.
Về Iran, dù lên tiếng phản đối các cuộc tập kích của Tehran, nhiều nhà phân tích cho rằng các quốc gia vùng Vịnh đang cân nhắc khả năng điều chỉnh lại toàn bộ chiến lược an ninh theo hướng thừa nhận ảnh hưởng của Iran trong khu vực. Nếu Iran không có thay đổi lớn về cục diện chính trị sau chiến sự, các nhà lãnh đạo vùng Vịnh sẽ cần tìm kiếm thỏa thuận để duy trì quan hệ dễ dự báo và tránh đối đầu. Trong kịch bản tình hình ở Iran có biến động lớn, vùng Vịnh cần sẵn sàng cho các tình huống bất thường khác.
Chuyên gia Ebtesam Al-Ketbi giải thích, khi Mỹ chấm dứt chiến sự mà không có sự thay đổi nào về chính trị ở Tehran, Iran sẽ giống “một con sư tử bị thương” và chắc chắn sẽ từng bước khôi phục sức mạnh; nhưng nếu chính quyền Iran không thể trụ vững, “điều đó tạo ra khoảng trống quyền lực và các nước láng giềng sẽ chịu hậu quả”.
Thực tế, trước khi chiến tranh bùng phát, Iran và một số nước vùng Vịnh đã có những bước đi thăm dò hướng tới hòa giải. Sau các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở dầu mỏ và tàu chở dầu của Arab Saudi năm 2019, sự kiện từng đưa khu vực đến sát bờ vực chiến tranh, Riyadh và Abu Dhabi cuối cùng vẫn lựa chọn con đường ngoại giao thay vì leo thang quân sự.
Theo báo Conversation, dưới sự lãnh đạo của tân Lãnh tụ Tối cao Mojtaba Khamenei, chính sách của Iran có thể trở nên cứng rắn hơn trước. Bối cảnh đó khiến các quốc gia vùng Vịnh phải đặc biệt thận trọng trong việc lựa chọn chính sách đối ngoại, bởi mọi quyết định đều có thể tác động trực tiếp đến quan hệ với Mỹ.
Một số nhà quan sát dự báo UAE, Oman và Qatar dường như sẽ kêu gọi cách tiếp cận thận trọng hơn đối với Iran, thay vì tham gia vào các nỗ lực do Mỹ dẫn đầu nhằm cô lập hoàn toàn Tehran. Từ góc nhìn của nhiều nước Arab, việc duy trì hoặc tái thiết lập các kênh đối thoại thực dụng với Iran có thể là lựa chọn ít rủi ro hơn trong dài hạn.
Bên cạnh đó, chiến sự ở Gaza từ năm 2023 cũng làm thay đổi cách nhiều quốc gia Arab nhìn nhận vai trò của Israel trong khu vực. Dù Hiệp định Abraham từng mở đường cho việc bình thường hóa quan hệ giữa Israel và một số quốc gia vùng Vịnh, xung đột kéo dài tại Gaza khiến Israel và các quốc gia Hồi giáo khó tìm thấy tiếng nói chung lâu dài.
Các nhà phân tích cảnh báo thêm rằng, bất kỳ động thái nào của Israel và Mỹ nhằm hỗ trợ các nhóm phi nhà nước trong lãnh thổ Iran nổi dậy chống lại chính quyền ở Tehran, bao gồm cả các nhóm ly khai người Kurd, đều có thể khiến các chính phủ Arab đặc biệt lo ngại. Nhiều quốc gia trong khu vực cũng phải đối mặt với các phong trào ly khai và không muốn tiền lệ như vậy lan rộng.
Trong kịch bản cực đoan hơn, nếu chính quyền Iran sụp đổ và đất nước này rơi vào hỗn loạn, hậu quả đối với toàn khu vực có thể rất nghiêm trọng. Một Iran bất ổn có thể kéo theo làn sóng tị nạn, bất ổn an ninh và nguy cơ xung đột lan rộng khắp Trung Đông, điều mà nhiều quốc gia vùng Vịnh coi là thảm họa địa chính trị.
Trước những kịch bản khó lường đó, các quốc gia vùng Vịnh không phải hoàn toàn thiếu công cụ để bảo vệ lợi ích của mình. Họ sở hữu nguồn lực tài chính rất lớn và nền kinh tế mạnh hơn nhiều so với trước đây. Chỉ riêng 3 quốc gia Arab là UAE, Arab Saudi và Kuwait đã đầu tư khoảng 315 tỷ USD vào trái phiếu kho bạc Mỹ. Về lý thuyết, nguồn vốn khổng lồ này mang lại cho họ một mức độ đòn bẩy nhất định trong thương lượng với Washington.
Tuy nhiên, trên thực tế khả năng tận dụng những công cụ đó vẫn còn hạn chế. Bất kỳ động thái nào nhằm thể hiện lập trường độc lập hơn về lợi ích quốc gia đều có thể xung đột với chiến lược và ngoại giao của Mỹ tại khu vực, dẫn đến những bất đồng với Washington.
Một vấn đề khác khiến các quốc gia vùng Vịnh lo ngại là việc họ chưa nhận được những thông tin công khai về chiến lược của Mỹ với giai đoạn hậu chiến sự. Về lý thuyết, đây lẽ ra là thời điểm để Washington định hình, hoặc ít nhất là nêu quan điểm về cách các bên chủ chốt trong khu vực sẽ tương tác với Iran trong những năm tới.














