Xã Tuy Đức - Đánh thức tiềm năng phát triển vùng biên

Với không gian rộng hơn và hạ tầng kết nối đang được đầu tư, xã Tuy Đức, tỉnh Lâm Đồng có điều kiện tổ chức lại các vùng sản xuất, dân cư và dịch vụ.

Khu vực trung tâm xã Tuy Đức

Khu vực trung tâm xã Tuy Đức

Nằm cách Trung tâm hành chính tỉnh khoảng 240 km, Tuy Đức là xã biên giới phía tây của tỉnh Lâm Đồng được thành lập theo Nghị quyết số 1671 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở sáp nhập 3 xã Quảng Tâm, Đắk R’Tih và Đắk Búk So. Với diện tích khoảng 26.000 ha, dân số khoảng 31.786 người, 18 thôn, bon và gần 3,2 km đường biên giới tiếp giáp huyện Ô Rang, tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia, Tuy Đức đang mở ra không gian phát triển mới với những lợi thế riêng của một địa bàn vùng biên.

Trên địa bàn có 25 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 39,9%; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn 14,2%. Kinh tế - xã hội từng bước phát triển, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Hệ thống chính trị được kiện toàn, hoạt động ổn định; Đảng bộ xã có 35 tổ chức cơ sở đảng với 983 đảng viên. Sau sắp xếp, mạng lưới giáo dục được tổ chức lại còn 7 cơ sở, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của người dân trên địa bàn.

Với không gian rộng hơn và hạ tầng kết nối đang được đầu tư, Tuy Đức có điều kiện tổ chức lại các vùng sản xuất, dân cư và dịch vụ. Quy hoạch chung xã xác định mô hình “1 trục động lực chính - 2 trục hỗ trợ - 3 cụm chức năng - 3 tiểu vùng phát triển”, tạo cơ sở định hình không gian phát triển trong dài hạn.

Cùng với dự án nâng cấp, cải tạo Tỉnh lộ 1, đoạn từ thị trấn Kiến Đức đến Tuy Đức, tổng vốn khoảng 600 tỷ đồng đang được triển khai, khả năng kết nối, lưu thông hàng hóa và tiếp cận thị trường được kỳ vọng tiếp tục cải thiện. Đây là tiền đề để Tuy Đức phát huy lợi thế về nông nghiệp, dịch vụ, du lịch và kinh tế vùng biên, đồng thời mở rộng dư địa thu hút đầu tư và tạo động lực phát triển mới cho địa phương.

Xã Tuy Đức có đường biên giới gần 3,2 km, tiếp giáp huyện Ô Rang, tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia

Xã Tuy Đức có đường biên giới gần 3,2 km, tiếp giáp huyện Ô Rang, tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia

Từ lợi thế đất đai đến những vùng nông sản hàng hóa

Giữa không gian cao nguyên xanh ngát, nơi những nương cà phê, mắc ca, hồ tiêu, sầu riêng trải dài trên đất đỏ bazan, Tuy Đức đang đứng trước cơ hội khai thác hiệu quả hơn những lợi thế vốn có. Điều kiện đất đai, khí hậu và cảnh quan tự nhiên tạo nền tảng để địa phương phát triển nền nông nghiệp đa dạng, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa gắn với nâng cao giá trị nông sản.

Hiện toàn xã có hơn 16.000 ha cây trồng lâu năm. Trong đó, cà phê chiếm hơn 8.000 ha, hồ tiêu hơn 1.750 ha, mắc ca hơn 2.000 ha và cây ăn trái gần 2.800 ha. Bên cạnh những cây trồng chủ lực, các vùng sản xuất khoai lang, rau xanh, bí đỏ, chanh dây… đang góp phần làm phong phú cơ cấu nông nghiệp địa phương.

Tuy nhiên, lợi thế về diện tích và sản lượng mới chỉ là nền tảng ban đầu. Để nông nghiệp thực sự trở thành động lực phát triển, Tuy Đức đang từng bước chuyển từ tư duy sản xuất dựa vào mở rộng diện tích sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Gần 560 ha sản xuất đã áp dụng các quy trình sản xuất an toàn và được chứng nhận, trong đó khoảng 300 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP. Các hệ thống tưới tiết kiệm, tưới nhỏ giọt, nhà kính và thiết bị bay không người lái phục vụ sản xuất ngày càng được người dân ứng dụng. Chương trình tái canh cà phê tiếp tục được triển khai, với kế hoạch thực hiện trên 82 ha trong năm 2026.

Hiện, toàn xã Tuy Đức có hơn 16.000 ha cây trồng lâu năm. Trong đó, cà phê chiếm hơn 8.000 ha, hồ tiêu hơn 1.750 ha, mắc ca hơn 2.000 ha và cây ăn trái gần 2.800 ha

Hiện, toàn xã Tuy Đức có hơn 16.000 ha cây trồng lâu năm. Trong đó, cà phê chiếm hơn 8.000 ha, hồ tiêu hơn 1.750 ha, mắc ca hơn 2.000 ha và cây ăn trái gần 2.800 ha

Chuẩn hóa nông sản, hình thành chuỗi giá trị

Từ sản xuất đơn thuần, nông sản Tuy Đức đang từng bước được chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh. Địa phương đã xây dựng 5 mã vùng trồng và cơ sở đóng gói, trong đó có mã vùng trồng chanh dây và sầu riêng phục vụ xuất khẩu, cùng các mã vùng trồng bơ phục vụ thị trường trong nước.

Việc hình thành mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói không chỉ nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với người sản xuất về quy trình canh tác, kiểm soát chất lượng và tổ chức sản xuất. Đây là những điều kiện quan trọng để nông sản Tuy Đức từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Cùng với chuẩn hóa sản xuất, kinh tế tập thể đang trở thành một trong những lực lượng quan trọng trong tổ chức lại sản xuất. Toàn xã hiện có 17 hợp tác xã đang hoạt động, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản.

OCOP – Kể câu chuyện của nông sản Tuy Đức

Nếu đất đai là lợi thế, thì sản phẩm đặc trưng chính là cách Tuy Đức kể câu chuyện về vùng đất của mình. Những sản phẩm được tạo ra từ nông sản địa phương không chỉ mang giá trị hàng hóa mà còn góp phần hình thành bản sắc và thương hiệu riêng cho vùng biên.

Đến nay, Tuy Đức có 15 sản phẩm OCOP của 13 chủ thể, trong đó 13 sản phẩm đạt 3 sao và 2 sản phẩm đạt 4 sao. Đây là kết quả bước đầu trong quá trình nâng cao chất lượng, hoàn thiện sản phẩm và xây dựng thương hiệu nông sản địa phương.

Thời gian tới, địa phương tiếp tục nâng chất các sản phẩm OCOP theo hướng hoàn thiện bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường. Cùng với phát triển sản phẩm mới, Tuy Đức định hướng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá và kết nối tiêu thụ.

Giá trị lâu dài của OCOP không chỉ nằm ở một sản phẩm được công nhận, mà còn ở khả năng đưa sản phẩm tiếp cận thị trường, tạo sinh kế cho người dân và gắn sản xuất với nhu cầu tiêu dùng.

Các sản phẩm OCOP cũng có thể trở thành cầu nối giữa nông nghiệp và du lịch.

Tuy Đức có 15 sản phẩm OCOP của 13 chủ thể, trong đó 13 sản phẩm đạt 3 sao và 2 sản phẩm đạt 4 sao. Đây là kết quả bước đầu trong quá trình nâng cao chất lượng, hoàn thiện sản phẩm và xây dựng thương hiệu nông sản địa phương

Tuy Đức có 15 sản phẩm OCOP của 13 chủ thể, trong đó 13 sản phẩm đạt 3 sao và 2 sản phẩm đạt 4 sao. Đây là kết quả bước đầu trong quá trình nâng cao chất lượng, hoàn thiện sản phẩm và xây dựng thương hiệu nông sản địa phương

Đánh thức những “viên ngọc xanh” vùng biên

Không chỉ có lợi thế về nông nghiệp, Tuy Đức còn sở hữu một tài sản đặc biệt là thiên nhiên và văn hóa vùng biên. Những dòng thác, cánh rừng, đồi thông, đồi cỏ hồng cùng không gian văn hóa M’nông đang mở ra dư địa để địa phương phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm và khám phá.

Thác Đắk G’lun đã trở thành điểm đến được biết đến trong hành trình khám phá Tây Nguyên. Trong dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán năm 2026, khu du lịch đón khoảng 1.500 lượt khách. Dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5, nơi đây tiếp tục đón khoảng 2.250 lượt khách, doanh thu từ bán vé và các dịch vụ du lịch đạt khoảng 360 triệu đồng.

Những kết quả trên cho thấy sức hút bước đầu của điểm đến này. Tuy nhiên, Đắk G’lun mới chỉ là một phần trong bức tranh du lịch Tuy Đức. Các thác nước như Đắk Búk So, những khu vực cảnh quan còn nguyên sơ, đồi thông, đồi cỏ hồng và không gian rừng đặc trưng của vùng cao nguyên vẫn còn nhiều dư địa để khai thác.

Lợi thế của Tuy Đức không chỉ nằm ở cảnh quan tự nhiên mà còn ở không gian văn hóa giàu bản sắc. Văn hóa M’nông với cồng chiêng, lễ hội, nghề dệt thổ cẩm, phong tục truyền thống cùng các địa danh gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng tạo nên những giá trị có thể kết nối với du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và lịch sử.

Tuy Đức còn sở hữu một tài sản đặc biệt là thiên nhiên và văn hóa vùng biên. Những dòng thác, cánh rừng, đồi thông, đồi cỏ hồng cùng không gian văn hóa M’nông đang mở ra dư địa để địa phương phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm và khám phá

Tuy Đức còn sở hữu một tài sản đặc biệt là thiên nhiên và văn hóa vùng biên. Những dòng thác, cánh rừng, đồi thông, đồi cỏ hồng cùng không gian văn hóa M’nông đang mở ra dư địa để địa phương phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm và khám phá

Hướng tới một Tuy Đức xanh, hiện đại và giàu bản sắc

Nhìn về phía trước, bài toán đặt ra với Tuy Đức không chỉ là khai thác những gì đang có, mà quan trọng hơn là khai thác như thế nào để tạo ra giá trị cao hơn và phát triển bền vững hơn.Trong nông nghiệp, địa phương tiếp tục tái cơ cấu ngành theo hướng tập trung, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất an toàn và nâng chất các cây trồng có lợi thế như cà phê, mắc ca, hồ tiêu, sầu riêng, chanh dây, khoai lang. Cùng với đó là tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; mở rộng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và thị trường tiêu thụ.

Trong du lịch, trọng tâm là khai thác lợi thế cảnh quan, sinh thái và văn hóa bản địa để từng bước hình thành những sản phẩm phù hợp. Việc thu hút đầu tư vào cơ sở lưu trú, dịch vụ trải nghiệm, du lịch cộng đồng và các tuyến, điểm kết nối giữa thiên nhiên với văn hóa sẽ góp phần tạo thêm sinh kế cho người dân.

Phát triển kinh tế cũng phải gắn với bảo vệ tài nguyên rừng. Tỷ lệ che phủ rừng của xã hiện đạt 17,64%; công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được tăng cường. Đây không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ môi trường mà còn là điều kiện để duy trì cảnh quan, bảo vệ hệ sinh thái và tạo nền tảng cho phát triển du lịch sinh thái lâu dài.

Mở rộng không gian phát triển, tạo những động lực mới cho Tuy Đức

Trong giai đoạn tới, Tuy Đức định hướng phát triển theo mô hình kinh tế đa ngành, lấy nông nghiệp hàng hóa làm nền tảng, công nghiệp chế biến, khoáng sản và năng lượng tái tạo làm những động lực mới; đồng thời phát triển thương mại – dịch vụ, logistics, du lịch sinh thái gắn với hoàn thiện kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đây là hướng đi nhằm khai thác tốt hơn lợi thế về đất đai, tài nguyên, cảnh quan, vị trí địa lý và không gian liên kết vùng của một xã miền núi, biên giới.

Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, nhưng sẽ chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng khoa học – công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng. Các vùng cà phê, hồ tiêu, mắc ca, cây ăn quả và những cây trồng có giá trị kinh tế cao được tổ chức lại theo hướng ổn định diện tích, nâng cao chất lượng, hình thành vùng nguyên liệu gắn với tiêu chuẩn sản xuất, truy xuất nguồn gốc và liên kết doanh nghiệp. Mục tiêu không dừng ở sản xuất nguyên liệu mà từng bước hình thành chuỗi khép kín từ sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản đến tiêu thụ, qua đó nâng giá trị nông sản ngay tại địa phương.

Trên nền tảng đó, công nghiệp chế biến và logistics sẽ trở thành khâu kết nối quan trọng giữa vùng nguyên liệu với thị trường. Cụm công nghiệp Quảng Tâm được định hướng phát triển khoảng 35 ha vào năm 2030 và mở rộng lên khoảng 75 ha vào năm 2050, tập trung các ngành công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Cùng với đó là hệ thống kho bãi, kho lạnh, điểm thu mua, sơ chế, bảo quản và trung chuyển nông sản, tạo điều kiện để Tuy Đức từng bước hình thành chuỗi sản xuất – chế biến – lưu thông hàng hóa đồng bộ.

Công nghiệp khai khoáng và năng lượng tái tạo được xác định là những dư địa phát triển dài hạn. Tuy Đức định hướng khai thác, tuyển và chế biến khoáng sản theo quy hoạch quốc gia và quy hoạch tỉnh, ưu tiên công nghệ hiện đại, tiết kiệm tài nguyên, kiểm soát chặt chất thải và hoàn nguyên môi trường. Đối với năng lượng, địa phương định hướng phát triển điện gió, điện mặt trời gắn với hệ thống truyền tải, trạm biến áp và hạ tầng đấu nối. Đặc biệt, việc phát triển hai lĩnh vực này được đặt trong yêu cầu kiểm soát chặt chẽ đất rừng, nguồn nước, khu dân cư, môi trường và các khu vực quốc phòng – an ninh; bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên.

Không gian phát triển được tổ chức theo 3 tiểu vùng có chức năng bổ trợ cho nhau. Phía Bắc tập trung trung tâm hành chính, dân cư, thương mại – dịch vụ và đô thị hóa có kiểm soát; phía Tây trở thành không gian công nghiệp – chế biến, logistics và dịch vụ với hạt nhân là Cụm công nghiệp Quảng Tâm; phía Nam phát triển nông nghiệp hàng hóa, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khoáng sản, năng lượng và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Sự phân vùng này tạo nên cấu trúc liên kết giữa sản xuất – chế biến – dịch vụ – thị trường, thay vì phát triển riêng lẻ từng khu vực.

Hạ tầng giao thông được xem là điều kiện mở rộng không gian kinh tế. Quốc lộ 14C giữ vai trò trục động lực chính; các tuyến ĐT.681, ĐT.682, ĐT.686 kết nối các tiểu vùng, vùng sản xuất và Cụm công nghiệp Quảng Tâm. Định hướng tuyến cao tốc CT46 kết nối khu vực cửa khẩu Bu Prăng với trục Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa được kỳ vọng tạo thêm điều kiện kết nối hàng hóa, mở rộng thị trường và nâng khả năng tiếp cận các đầu mối kinh tế lớn.

Cùng với các động lực kinh tế, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và trải nghiệm nông nghiệp được định hướng phát triển dựa trên tài nguyên rừng, hồ, cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc. Chuyển đổi số cũng được đẩy mạnh trong quản lý nhà nước, sản xuất, thương mại và cung cấp dịch vụ, tạo thêm phương thức kết nối người dân, doanh nghiệp với thị trường.

Theo lộ trình quy hoạch, đến năm 2030, Tuy Đức tập trung hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, củng cố các khu dân cư, nâng cấp giao thông, giáo dục, y tế, văn hóa, hạ tầng phục vụ sản xuất và phát triển Cụm công nghiệp Quảng Tâm. Giai đoạn 2031–2050 tiếp tục mở rộng không gian công nghiệp – dịch vụ, logistics, chế biến khoáng sản, năng lượng tái tạo và các hoạt động kinh tế mới.

Với định hướng này, Tuy Đức từng bước chuyển từ lợi thế về đất đai, tài nguyên và vị trí biên giới thành các giá trị cụ thể về sản xuất, công nghiệp, năng lượng, dịch vụ và kết nối thị trường. Quy hoạch đồng thời tạo hành lang pháp lý để địa phương chủ động thu hút các nguồn lực xã hội, lựa chọn những dự án phù hợp, phát triển hạ tầng đồng bộ và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư. Mục tiêu xuyên suốt là hình thành một Tuy Đức phát triển đa ngành nhưng có trọng tâm, tăng trưởng dựa trên lợi thế riêng, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ rừng, nguồn nước, môi trường, nâng cao đời sống Nhân dân và giữ vững quốc phòng – an ninh vùng biên giới.

Trong giai đoạn tới, Tuy Đức định hướng phát triển theo mô hình kinh tế đa ngành, lấy nông nghiệp hàng hóa làm nền tảng, công nghiệp chế biến, khoáng sản và năng lượng tái tạo làm những động lực mới; đồng thời phát triển thương mại – dịch vụ, logistics, du lịch sinh thái gắn với hoàn thiện kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đây là hướng đi nhằm khai thác tốt hơn lợi thế về đất đai, tài nguyên, cảnh quan, vị trí địa lý và không gian liên kết vùng của một xã miền núi, biên giới

Trong giai đoạn tới, Tuy Đức định hướng phát triển theo mô hình kinh tế đa ngành, lấy nông nghiệp hàng hóa làm nền tảng, công nghiệp chế biến, khoáng sản và năng lượng tái tạo làm những động lực mới; đồng thời phát triển thương mại – dịch vụ, logistics, du lịch sinh thái gắn với hoàn thiện kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đây là hướng đi nhằm khai thác tốt hơn lợi thế về đất đai, tài nguyên, cảnh quan, vị trí địa lý và không gian liên kết vùng của một xã miền núi, biên giới

Cam kết của địa phương đồng hành cùng doanh nghiệp

Với những lợi thế về quỹ đất sản xuất, vùng nguyên liệu, cảnh quan tự nhiên, văn hóa bản địa và vị trí vùng biên, Tuy Đức có dư địa để thu hút các dự án đầu tư gắn với lợi thế địa phương. Trước mắt, địa phương ưu tiên kêu gọi đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, chế biến và bảo quản nông sản, công nghiệp phục vụ sản xuất, thương mại - dịch vụ, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

Trong đó, nhu cầu lớn nhất là các dự án tham gia vào những khâu còn thiếu trong chuỗi giá trị nông sản như sơ chế, chế biến sâu, bảo quản, đóng gói và tiêu thụ. Đây cũng là hướng để doanh nghiệp tiếp cận vùng nguyên liệu ổn định, đồng thời giúp nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường cho nông sản địa phương.

Tuy Đức xác định cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng phục vụ và đồng hành cùng doanh nghiệp là nhiệm vụ thường xuyên. Địa phương cam kết tạo điều kiện để nhà đầu tư tiếp cận thông tin quy hoạch, khảo sát địa bàn, nghiên cứu dự án; phối hợp giải quyết các thủ tục thuộc thẩm quyền và kịp thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai.

Từ những lợi thế hiện có và không gian phát triển được mở rộng sau sắp xếp đơn vị hành chính, Tuy Đức đang tạo lập các điều kiện để đón nhận những dòng vốn đầu tư phù hợp. Địa phương xác định doanh nghiệp là một trong những lực lượng quan trọng để chuyển lợi thế về đất đai, nông sản, cảnh quan và vị trí vùng biên thành giá trị kinh tế cụ thể; qua đó mở rộng sản xuất, tạo việc làm và tăng nguồn lực cho phát triển địa phương./.

Trần Quỳnh - Sao Mai

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/xa-tuy-duc-danh-thuc-tiem-nang-phat-trien-vung-bien-17501.html