Xây dựng bộ chuẩn và công cụ đánh giá chuyển đổi số, AI cho nhà giáo miền núi
Một khung năng lực chuyển đổi số và AI dành cho nhà giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi miền Trung Việt Nam vừa được xây dựng chi tiết.

Nhà giáo khu vực miền núi khu vực miền Trung đang được xây dựng một khung năng lực chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Trong tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, việc thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền được xác định là nhiệm vụ mang tính chiến lược. Mới đây, tại Đại học Huế, Viện Chuyển đổi số và Học liệu phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức Hội thảo tham vấn về việc xây dựng Khung năng lực chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) dành cho đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khu vực Miền Trung Việt Nam.
Đây là bước tiến quan trọng nhằm định hình một bộ chuẩn đánh giá thực chất, khoa học và hạ tầng hóa các công cụ hỗ trợ nhà giáo vùng khó vươn lên làm chủ công nghệ.
Từ khoảng trống thực tiễn đến khung năng lực 6 miền, 22 năng lực thành phần
Để xây dựng một bộ chuẩn có tính khả thi cao, nhóm nghiên cứu đại diện bởi PGS.TS Hồ Lê Phi Khanh, Phó trưởng Bộ môn Phát triển Nông thôn, Khoa Phát triển Nông thôn. Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế; Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung Việt Nam và PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn, Phó Viện Trưởng Viện Chuyển đổi số và Học liệu – Đại học Huế đã tiến hành khảo sát diện rộng về thực trạng năng lực số của giáo viên vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Kết quả từ 189 phản hồi hợp lệ cho thấy điểm năng lực tổng hợp trung bình của đội ngũ nhà giáo khu vực này chỉ đạt 1,41/4 điểm. Đáng chú ý, có tới 57,6% chỉ báo năng lực nằm ở mức 0 và 1 (chưa thực hiện hoặc chỉ thực hiện ở mức cơ bản khi có hướng dẫn), trong khi tỷ lệ đạt mức thành thạo và dẫn dắt chỉ chiếm khoảng 12,0%.

PGS.TS Hồ Lê Phi Khanh cho biết kết quả khảo sát Hiện trạng năng lực chuyển đổi số và ứng dụng AI của đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi miền Trung.
“Những điểm nghẽn lớn nhất tập trung ở việc vận hành hệ thống quản lý học tập (LMS), tổ chức dạy học thích ứng, hạn chế về thiết bị, hạ tầng kết nối chập chờn và thiếu hụt học liệu số băng thông thấp.
Trước thực tế đó, bộ chuẩn năng lực mới đã được thiết kế dựa trên sự kế thừa cấu trúc khung quốc gia tại Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT và các khung tham chiếu quốc tế như DigComp 3.0 hay Khung năng lực AI của UNESCO, đồng thời bổ sung sâu sắc các yếu tố đặc thù của giáo dục nghề nghiệp vùng miền núi” - PGS.TS Hồ Lê Phi Khanh cho biết.
Dựa trên kết quả khảo sát thực địa, khung đề xuất đã điều chỉnh mở rộng từ 20 lên 22 năng lực thành phần, phân chia thành 4 mức độ phát triển (Cơ bản, Khá, Thành thạo, Dẫn dắt) thay vì 3 mức như dự thảo ban đầu, nhưng vẫn giữ nguyên 6 miền năng lực cốt lõi để đảm bảo khả năng đối sánh đồng bộ trên toàn quốc.

Nhóm nghiên cứu xác định nhu cầu bồi dưỡng cho giáo viên hướng tới khả năng tích hợp công nghệ số và AI.
Cấu trúc 6 miền năng lực bao gồm: Tổ chức dạy học, giáo dục số (4 năng lực); Kiểm tra, đánh giá (4 năng lực); Trao quyền cho người học (3 năng lực); Kỹ năng công nghệ số (3 năng lực); Phát triển chuyên môn (3 năng lực); và đặc biệt là miền Trí tuệ nhân tạo (AI) với 5 năng lực thành phần.
Điểm khác biệt mang tính đột phá của bộ chuẩn này nằm ở nguyên tắc "lấy con người làm trung tâm" và thiết kế "mobile-first", "offline-first". Công nghệ số và AI được xác định đóng vai trò trợ lý hỗ trợ, không thay thế phán quyết sư phạm của người thầy. Các tiêu chí đánh giá hướng mạnh vào khả năng ứng dụng thực tế trên thiết bị di động phổ thông, tối ưu hóa học liệu dung lượng thấp, hỗ trợ đa ngôn ngữ và tôn trọng bản sắc văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bộ công cụ đánh giá bằng minh chứng
Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn, một trong những trăn trở lớn nhất của các nhà quản lý giáo dục là làm sao để công tác đánh giá không rơi vào hình thức hoặc gây áp lực vô hình lên nhà giáo vùng khó.
Do đó, bộ công cụ đánh giá năng lực đi kèm khung chuẩn cam kết nguyên tắc: Không chấm điểm bằng việc đếm số lượng công cụ công nghệ mà giáo viên đã sử dụng. Thay vào đó, việc đo lường năng lực được thực hiện thông qua hệ thống minh chứng thực hành đa dạng như: kế hoạch bài giảng blended/offline, video thao tác nghề có phụ đề, sản phẩm mô phỏng, nhật ký xử lý tình huống kỹ thuật và phản hồi thực tế từ học viên hay doanh nghiệp.

PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn trao đổi.
Bộ công cụ cũng đưa ra thang Rubric đánh giá minh bạch 5 cấp độ (từ điểm 0 đến điểm 4), đồng thời quy định rõ các "điều kiện chặn" đối với những vi phạm nghiêm trọng về an toàn dữ liệu cá nhân hoặc đạo đức AI. Đặc biệt, bộ chuẩn quán xuyến tinh thần công bằng số: Không phạt nhà giáo vì lý do thiếu hụt hạ tầng công nghệ nếu thầy cô chủ động đưa ra được các giải pháp sư phạm thay thế phù hợp với hoàn cảnh thực tế địa phương.

Chương trình bồi dưỡng tích hợp gồm 7 mô-đun với tổng thời lượng 60 tiết dành cho nhà giáo vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Để bộ chuẩn không dừng lại trên giấy, nhóm nghiên cứu đã đề xuất chương trình bồi dưỡng tích hợp gồm 7 mô-đun với tổng thời lượng 60 tiết. Chương trình được thiết kế theo tỷ lệ tối thiểu 60% thời lượng dành cho thực hành, tạo sản phẩm và triển khai dự án thực tế ngay tại cơ sở. Nội dung đào tạo trải dài từ nền tảng chuyển đổi số, thiết kế học liệu băng thông thấp, an toàn xưởng thực hành cho đến kỹ thuật xây dựng câu lệnh (prompt engineering), sư phạm AI và đạo đức ứng dụng AI có kiểm chứng.
Theo lộ trình triển khai trong năm 2026, sau bước khảo sát và hội thảo tham vấn ý kiến chuyên gia, khung năng lực và bộ công cụ sẽ tiếp tục được hoàn thiện mô-đun, thử nghiệm học liệu offline vào tháng 10/2026. Việc thí điểm, đánh giá trước – sau bồi dưỡng và quan sát thực địa tại các xưởng thực hành sẽ diễn ra trong tháng 11/2026, trước khi tiến hành nghiệm thu, hiệu chỉnh và sẵn sàng nhân rộng từ tháng 12/2026.

Bộ công cụ sẽ tiếp tục được hoàn thiện mô-đun, thử nghiệm học liệu offline vào tháng 10/2026 này.
“Việc hoàn thiện bộ chuẩn và công cụ đánh giá năng lực số, AI lần này không chỉ là lời giải cho bài toán nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp vùng miền núi, mà còn là nền tảng vững chắc giúp đội ngũ thầy cô giáo vùng cao tự tin làm chủ công nghệ, gieo mầm tri thức bền vững cho tương lai” - PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn, Phó Viện Trưởng Viện Chuyển đổi số và Học liệu – Đại học Huế nhấn mạnh.

