Từ 'phao an sinh' đến 'bệ phóng' nguồn nhân lực cho các dân tộc rất ít người

Dự thảo nghị định quy định chính sách hỗ trợ học tập đối với các dân tộc rất ít người đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) hoàn thiện, dự kiến trình Chính phủ trong tháng 10/2026.

Những đề xuất mới không chỉ tháo gỡ một số hạn chế trong Nghị định số 57/2017/NĐ-CP mà còn được kỳ vọng tạo đột phá nâng cao nguồn nhân lực ở các cộng đồng dân tộc có dân số ít.

Trong 9 năm (2017 - 2026) có 14.981 học sinh các dân tộc rất ít người hoàn thành chương trình mầm non, trong đó có 5.742 em được tuyển thẳng vào lớp 1 các trường PTDTBT. (Trong ảnh: Học sinh mầm non dân tộc Pà Thẻn. Ảnh: Vũ Mừng)

Trong 9 năm (2017 - 2026) có 14.981 học sinh các dân tộc rất ít người hoàn thành chương trình mầm non, trong đó có 5.742 em được tuyển thẳng vào lớp 1 các trường PTDTBT. (Trong ảnh: Học sinh mầm non dân tộc Pà Thẻn. Ảnh: Vũ Mừng)

Cơ hội học tập mở rộng, yêu cầu về chất lượng đặt ra
Cách đây hơn 9 năm, Nghị định số 57/2017/NÐ-CP (NÐ 57) được ban hành trong bối cảnh việc tiếp cận giáo dục của trẻ em, học sinh, sinh viên (HSSV) thuộc 16 dân tộc rất ít người còn nhiều khó khăn. Quy mô dân số nhỏ, địa bàn cư trú phân tán, điều kiện kinh tế - xã hội hạn chế và khoảng cách về cơ hội giáo dục khiến việc duy trì học tập, nhất là ở các bậc học cao, trở thành thách thức không nhỏ.

Dấu ấn lớn nhất của NÐ 57 là đã tạo ra một hành lang hỗ trợ tương đối rõ từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học. Theo tổng kết của Bộ GD&ÐT, giai đoạn 2017-2026, ngân sách nhà nước đã chi hơn 1.320 tỷ đồng, hỗ trợ trên 160.000 lượt trẻ mẫu giáo, HSSV thuộc 16 dân tộc rất ít người.

Chính sách hỗ trợ, nhất là cơ chế ưu tiên tuyển thẳng đã góp phần tăng quyền tiếp cận giáo dục đối với các dân tộc rất ít người. Ðặc biệt, hiện cả 16 dân tộc rất ít người đều đã có người học đại học, cao đẳng, với 767 học sinh tốt nghiệp THPT được tuyển sinh và hưởng chính sách hỗ trợ tính đến năm học 2025-2026.

Nhưng một vấn đề đã xuất hiện từ thực tiễn vận hành cơ chế tuyển sinh đặc thù, nhất là bậc đại học đối với HS tốt nghiệp THPT. Việc ưu tiên tuyển thẳng vào đại học giúp mở rộng cơ hội, nhưng khoảng cách về kiến thức nền, phương pháp học tập và kỹ năng thích ứng có thể trở thành rào cản mới.

Học sinh dân tộc Ơ Đu, tỉnh Nghệ An trên đường đến trường. Ảnh: Thanh Hải

Học sinh dân tộc Ơ Đu, tỉnh Nghệ An trên đường đến trường. Ảnh: Thanh Hải

Ðiều này đã được Bộ GD&ÐT nhìn nhận một cách thẳng thắn khi tổng kết NÐ 57. Theo Bộ này, chính sách tuyển thẳng vào học đại học dẫn đến hiệu quả giáo dục đại học cho đối tượng này còn thấp, nhiều SV bỏ học giữa chừng hoặc khó có khả năng tốt nghiệp đại học.

Như vậy, chính sách đã giải quyết được một phần bài toán “đầu vào”, nhưng thực tiễn đặt ra yêu cầu phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng theo học, hoàn thành chương trình và đáp ứng chuẩn đầu ra. Vì vậy, trong dự thảo Nghị định thay thế NÐ 57, cơ chế tuyển sinh mới được xây dựng theo hướng đổi cách thức ưu tiên.

Theo đề xuất của Bộ GD&ÐT, thay vì tuyển thẳng cơ học vào đại học, HS tốt nghiệp THPT thuộc các dân tộc rất ít người được định hướng tuyển thẳng vào trường dự bị đại học để được củng cố kiến thức, kỹ năng trước khi bước vào đào tạo chính quy.

Với tuyển sinh đại học, dự thảo đề xuất cộng mức điểm ưu tiên cao nhất theo đối tượng chính sách.

Ðó là sự chuyển từ ưu tiên để mở cửa sang ưu tiên gắn với chuẩn bị năng lực, không phải là hạ thấp yêu cầu chất lượng, càng không phải tạo một con đường riêng tách khỏi chuẩn đào tạo chung. Mục tiêu của ưu tiên là giúp người học vượt qua bất lợi ban đầu để có đủ điều kiện cạnh tranh và hoàn thành chương trình.

Hỗ trợ đúng nơi cần, không để đứt đoạn vòng đời giáo dục
Một thành công khác của NÐ 57 là tạo được độ bao phủ tương đối rộng. Hơn 160.000 lượt người học được hỗ trợ trong gần một thập kỷ cho thấy, chính sách đã trở thành một nguồn lực an sinh giáo dục quan trọng đối với các cộng đồng rất ít người.

Tuy nhiên, khi tổng kết NÐ 57, Bộ GD&ÐT đã nhận ra nhiều “nút thắt” trong hỗ trợ chi phí học tập.

Ðó là tình trạng cùng thuộc một dân tộc rất ít người nhưng điều kiện kinh tế của các hộ gia đình không giống nhau; cùng là người học thuộc diện chính sách nhưng chi phí học tập, sinh hoạt giữa các cấp học, địa bàn và loại hình đào tạo cũng khác nhau.

Vì thế, Bộ GD&ÐT đã thiết kế mức hỗ trợ mới theo từng cấp học, từng nhóm đối tượng và đề xuất nâng mức hỗ trợ đối với sinh viên, học viên sau đại học lên 150% mức lương cơ sở/tháng.

Thời gian hưởng cũng được tính theo số tháng học thực tế, thay vì áp dụng cứng theo 12 tháng/năm học. Khi được thể chế hóa, cách tiếp cận này sẽ làm chính sách sát hơn với thực tế học tập: không chỉ hỗ trợ một nhóm người, mà hỗ trợ phù hợp với từng giai đoạn đào tạo của người học.

Một “điểm nghẽn” khác cũng được đề xuất gỡ bỏ là hỗ trợ học tập đúng, đủ cho cả vòng đời giáo dục. Một khoảng trống hiện nay là NÐ 57 chỉ quy định hỗ trợ bắt đầu từ bậc mầm non đến đại học, nhưng bỏ qua giai đoạn trẻ nhà trẻ và sau đại học.

Trong khi đó, trẻ từ 3 tháng đến dưới 36 tháng tuổi cũng là nhóm có nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng và tiếp cận giáo dục sớm rất lớn, nhất là tại những địa bàn mà cha mẹ phải dành phần lớn thời gian cho sản xuất.

Nếu thiếu chính sách hỗ trợ ở giai đoạn này, gia đình khó đưa trẻ đến cơ sở giáo dục mầm non; nhà trường cũng gặp khó khăn trong tổ chức huy động và duy trì trẻ.

Ðặc biệt, việc thiếu quy định hỗ trợ sau đại học đã để lại khoảng trống mênh mông trong mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho cộng đồng các dân tộc rất ít người.

Khi mục tiêu của chính sách đã chuyển dần từ phổ cập cơ hội học tập sang phát triển nguồn nhân lực, việc dừng hỗ trợ ở trình độ đại học sẽ không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu mới.

Những “khoảng trống” này được lấp đầy trong dự thảo Nghị định mới khi mở rộng phạm vi đối tượng trẻ em từ 3 tháng tuổi đến người học ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.

Ðây là thay đổi đáng chú ý về tư duy trong xây dựng chính sách, từ thiết kế theo từng “khúc” của hệ thống giáo dục sang định hình chuỗi liên tục từ những năm đầu đời đến đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Từ “điểm tựa” đến động lực phát triển
Ðối với chính sách dành cho các dân tộc rất ít người, việc xác định đúng đối tượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dân số thay đổi, địa bàn cư trú thay đổi, người học chuyển cấp, chuyển trường; trong khi các quy định liên quan nằm ở nhiều văn bản khác nhau.

Nếu thông tin không được cập nhật và liên thông, địa phương dễ lúng túng, còn người dân phải thực hiện thêm những thủ tục để chứng minh mình thuộc diện được hưởng.

Rà soát dự thảo Nghị định về công tác dân tộcXem chi tiết

Ðây chính là khoảng cách giữa một chính sách thống nhất trên văn bản và một chính sách được vận hành thống nhất trong thực tế. Chính vì vậy, Bộ GD&ÐT đề xuất khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục, giảm các giấy tờ xác nhận mà cơ quan nhà nước đã có thông tin.

Ðây không chỉ là một bước tiến cải cách thủ tục hành chính. Quan trọng hơn, khi được thực hiện đồng bộ sẽ đo đếm được hiệu quả chính sách bằng định lượng cụ thể về cơ hội học tập được chuyển hóa thành năng lực con người ở các cộng đồng dân tộc rất ít người.

Gần một thập kỷ trước, NÐ 57 được ban hành nhằm tạo thêm cơ hội cho trẻ em, HSSV thuộc 16 dân tộc rất ít người không bị bỏ lại phía sau trên hành trình đến trường. Nhưng nay, một bài toán mới đã được đặt ra chính những kết quả đạt được cũng như những hạn chế đã được chỉ ra.

Vì thế, việc xây dựng Nghị định thay thế NÐ 57 là bước tiếp theo được đặt ra từ thực tiễn triển khai chính sách hỗ trợ học tập đối với các dân tộc rất ít người.

Từ mở rộng cơ hội đến bảo đảm chất lượng, từ hỗ trợ theo diện đến hỗ trợ theo nhu cầu, từ chính sách theo cấp học đến chính sách theo vòng đời giáo dục, từ quản lý hồ sơ đến quản trị bằng dữ liệu,… là những chuyển động cần thiết để chính sách theo kịp yêu cầu phát triển mới.

Chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập tại NĐ 57 áp dụng đối với trẻ mẫu giáo, HSSV thuộc 16 dân tộc rất ít người theo số liệu điều tra dân tộc năm 2009, bao gồm: Ơ Đu, Pu Péo, Si La, Rơ Măm, Brâu, Cống, Bố Y, Mảng, Lô Lô, Cơ Lao, Ngái, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Chứt, La Hủ. Tuy nhiên hiện nay các chính sách cho đồng bào DTTS và miền núi đã tiếp cận nghèo đa chiều, trong đó các chính sách mới cần ưu tiên các dân tộc có khó khăn đặc thù (là dân tộc có dân số trong phạm vi toàn quốc dưới 10.000 người và có tỷ lệ hộ nghèo đa chiều lớn hoặc dân số giảm).

(Trích Tờ trình Dự thảo Nghị định quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập đối với người học thuộc các dân tộc rất ít người của Bộ GD&ĐT)

Sỹ Hào

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/tu-phao-an-sinh-den-be-phong-nguon-nhan-luc-cho-cac-dan-toc-rat-it-nguoi-2560687.html