Xây dựng điểm đến hoàn chỉnh

Để các không gian gắn với du lịch trải nghiệm trở thành điểm đến hiệu quả, các địa phương phải vượt qua khoảng cách về hạ tầng, dịch vụ, kỹ năng, tiêu chuẩn hữu cơ và năng lực tổ chức cộng đồng.

Nhiều điểm đến vẫn chưa được đầu tư hạ tầng để thu hút du khách. Ảnh: PHAN VINH

Nhiều điểm đến vẫn chưa được đầu tư hạ tầng để thu hút du khách. Ảnh: PHAN VINH

Hoạt động cầm chừng

Ở xã Sông Kôn, làng Bhơ Hôồng có nhiều chất liệu để phát triển du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp hữu cơ, từ vườn cây bản địa, suối nước nóng, văn hóa Cơ Tu đến nghề đan lát, dệt thổ cẩm, ẩm thực truyền thống và các tuyến trekking suối, thác.

Chị Đinh Thị Thìn, Giám đốc Công ty TNHH Du lịch Hành trình văn hóa Cơ Tu cho biết, thời gian qua, điểm đến này duy trì hơn 50 khách lưu trú mỗi tháng và hơn 100 lượt khách trải nghiệm, phần lớn là khách quốc tế, qua khoảng 30 công ty lữ hành.

Dịch vụ tại Bhơ Hôồng khá đa dạng, từ ẩm thực truyền thống, múa tâng tung da dá, nhạc cụ, dân ca Cơ Tu, đan lát, dệt thổ cẩm, bắn nỏ, khám phá làng, tắm suối Malu đến trekking thác Areec, suối Duôi và lưu trú tại ACu homestay. Mức chi phí khoảng 420 nghìn đồng/người, gồm ăn sáng, ăn tối.., cho thấy làng đã có nền vận hành ban đầu, có khách, sản phẩm và người dân tham gia.

Tuy nhiên, theo ông Zơđêl Vy, Trưởng thôn Bhơ Hôồng, dòng khách hiện nay vẫn chưa đủ lớn để du lịch trở thành sinh kế ổn định. Du lịch đã hiện diện trong đời sống của làng, nhưng chưa thường xuyên, chưa tạo được việc làm đều đặn cho bà con.

“Từ năm 2013, đã có doanh nghiệp ở Hội An lên đầu tư nhà lưu trú, quầy trưng bày hiện vật và khu lễ tân đón khách. Sau dịch COVID-19, lượng khách giảm mạnh, nhiều hạng mục bỏ hoang, nhà lưu trú và nhà trưng bày xuống cấp, không còn khả năng khai thác, trong khi địa phương chưa thể xử lý dứt điểm vì phần đất này đã được doanh nghiệp thuê lâu năm”, ông Vy nói.

Khu nhà đón tiếp du khách ở làng Bhơ Hôồng đã xuống cấp nghiêm trọng. Ảnh: PHAN VINH

Khu nhà đón tiếp du khách ở làng Bhơ Hôồng đã xuống cấp nghiêm trọng. Ảnh: PHAN VINH

Ông Đỗ Hữu Tùng, Chủ tịch UBND xã Sông Kôn cho biết, khó khăn của Bhơ Hôồng nằm ở hạ tầng kết nối và điều kiện phục vụ khách. Tuyến đường chính lên điểm du lịch này còn chật hẹp, nhiều đoạn xuống cấp, quanh co, cầu treo vào làng đã đầu tư khoảng 20 năm, cần nâng cấp...

Hiện đời sống bà con ở làng còn khó khăn, phần lớn là người lớn tuổi, trẻ em thì đi học, lực lượng lao động trẻ chưa nhiều. Muốn phát triển du lịch cộng đồng phải có sự tham gia đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Nhà nước hỗ trợ hạ tầng, doanh nghiệp đầu tư sản phẩm, còn người dân phải được tập huấn kỹ năng đón khách, giữ nghề truyền thống, cải tạo vườn, trồng cây hữu cơ và tham gia chuỗi dịch vụ.

“Định hướng của xã Sông Kôn là khơi lại sức sống cho Bhơ Hôồng bằng cách gắn sinh thái với vườn cây bản địa, nghề đan lát, ẩm thực truyền thống và văn hóa Cơ Tu. Từ năm 2023, địa phương định hướng phát triển lòn bon, chuối, sầu riêng, cải tạo vườn, tạo thêm sản phẩm nông nghiệp phục vụ du khách”, ông Tùng nói.

Cần thêm bệ phóng

Trong danh mục 16 không gian nông nghiệp hữu cơ được Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 xác định, nhiều điểm đến đã có cảnh quan, câu chuyện bản địa và nền sản xuất đặc thù, nhưng vẫn lưng chừng giữa tiềm năng và khả năng vận hành của một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.

Trải nghiệm du lịch nông nghiệp cũng cần quan tâm đến việc cải thiện quy trình sản xuất xanh - sạch. Ảnh: PHAN VINH

Trải nghiệm du lịch nông nghiệp cũng cần quan tâm đến việc cải thiện quy trình sản xuất xanh - sạch. Ảnh: PHAN VINH

Ở nhóm đồng bằng ven biển như xã Núi Thành, Biển Rạng được định hướng gắn với nuôi trồng thủy sản hữu cơ, cá lồng bè, hàu, vườn dừa, khu di tích chùa Hang và Tượng đài Chiến thắng Núi Thành... Nhưng các khu vực này muốn trở thành điểm du lịch cộng đồng đúng nghĩa vẫn cần hạ tầng đồng bộ hơn về đường xuống biển, vệ sinh môi trường, tổ chức dịch vụ và liên kết hộ dân thành chuỗi trải nghiệm.

Ở nhóm trung du, cánh đồng sen Trà Lý tại xã Duy Xuyên có không gian rộng dưới chân núi Hòn Tàu, phù hợp cho trải nghiệm sinh thái, thu hoạch sen, thưởng thức trà sen, món ăn từ sen và hoạt động nông nghiệp theo mùa. Tuy nhiên, do tính mùa vụ cao khiến điểm đến này khó giữ khách quanh năm nếu thiếu sản phẩm bổ trợ sau mùa sen, trong khi giao thông nội đồng, bãi đỗ xe, điểm nghỉ chân và dịch vụ ẩm thực vẫn cần tổ chức bài bản.

Tương tự, mô hình thủy sản - sinh thái tại Sông Đầm, phường Quảng Phú có lợi thế đất ngập nước, bãi sậy, tôm cá, chim hoang dã và nghề đánh bắt truyền thống, phù hợp với chèo thuyền, quan sát thiên nhiên, trải nghiệm thủy sản hữu cơ; nhưng bến thuyền, dịch vụ đón khách, nhà hàng sinh thái và truyền thông thương hiệu vẫn chưa tương xứng.

Đề án phác thảo bản đồ đa dạng, gồm 4 điểm đồng bằng ven biển, 8 điểm trung du và 4 điểm miền núi. Điều này cho thấy Đà Nẵng không thiếu chất liệu, song vấn đề là biến vùng sản xuất, cảnh quan hay sinh kế bản địa thành sản phẩm có hạ tầng, dịch vụ, câu chuyện, tiêu chuẩn an toàn và khả năng đón khách ổn định. Ông Lê Quốc Việt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng nhìn nhận, nhiều điểm đến hiện nay có “phần thô” rất tốt nhưng thiếu khâu tổ chức để trở thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.

“Du khách không thể chỉ đến để ngắm cánh đồng sen, bãi biển đẹp hay vùng sông nước rồi rời đi ngay. Điểm du lịch muốn giữ chân khách phải có đường đi thuận tiện, nơi dừng nghỉ, câu chuyện để nghe, hoạt động để tham gia, sản phẩm để mua về và dịch vụ đủ an toàn, sạch sẽ, chuyên nghiệp. Nếu các điểm trong đề án được rà soát lại theo hướng đó, gắn với doanh nghiệp lữ hành và người dân địa phương, du lịch nông nghiệp hữu cơ sẽ có cơ hội đi xa hơn”, ông Việt nói.

AN NHIÊN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/xay-dung-diem-den-hoan-chinh-3340513.html