Xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị miền núi thích ứng biến đổi khí hậu

Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới, có địa hình hiểm trở chia cắt mạnh, điều kiện tự nhiên phức tạp, trong khi hệ thống hạ tầng kỹ thuật và điều tiết nước đô thị miền núi còn nhiều hạn chế. Biến đổi khí hậu với các hiện tượng mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất đang tạo ra nhiều thách thức mới đối với công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đô thị trên địa bàn tỉnh.

Thực trạng hệ thống thoát nước tại đô thị và điểm dân cư nông thôn

Theo các chuyên gia, 90% nguyên nhân của biến đổi khí hậu đến từ con người, chỉ khoảng 10% do yếu tố tự nhiên. Riêng với tình trạng ngập lụt ở các đô thị, phần lớn do chưa thực hiện được những giải pháp khả thi. Quy hoạch là yếu tố then chốt, đặc biệt quy hoạch đô thị phải đi đôi với quy hoạch giao thông, đồng thời tính đến hệ thống thoát nước ngầm. Các nhóm giải pháp cụ thể, gồm: Quy hoạch công trình ngầm đồng bộ, hệ thống cống thoát nước, cáp quang, bưu chính viễn thông, đường ống cấp nước… cần được thiết kế và thi công tích hợp.

Các địa phương cần chú trọng đến yếu tố kỹ thuật xây dựng, xác định cốt nền hợp lý để bảo đảm khả năng thoát nước kịp thời; khơi thông dòng chảy tự nhiên, các sông rạch trong đô thị. Mặt khác, tăng cường khả năng thấm hút tự nhiên thông qua việc mở rộng diện tích cây xanh, công viên và thảm cỏ. Tại tỉnh Cao Bằng, hệ thống cấp thoát nước tại các đô thị và điểm dân cư tập trung xây dựng không đồng bộ, xuống cấp, đặc biệt chưa được thiết kế đầy đủ để thích ứng với các trận mưa lớn bất thường, dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ hoặc xảy ra trên diện rộng.

Đối với các khu trung tâm, dọc các trục đường chính của các xã, phường đã có hệ thống thoát nước chung (dạng mương hở, mương nắp đan) mật độ xây dựng còn thấp, đáp ứng được 50 - 60% nhu cầu. Tại các phường: Thục Phán, Nùng Trí Cao, Tân Giang chỉ xây dựng được hệ thống thoát nước tại khu vực nội thị cũ; hệ thống thoát nước nước mưa và nước thải tự thoát ra ao, hồ, sông suối…

Phần lớn hệ thống thoát nước tại các phường, xã đều chưa hoàn chỉnh. Nước thải sinh hoạt từ các công trình hầu như chỉ được xử lý cục bộ bằng bể tự hoại trước khi xả ra hệ thống thoát nước. Hiện toàn tỉnh chỉ có phường Thục Phán đã triển khai lập dự án thoát nước do Chính phủ Đan Mạch tài trợ. Hệ thống thoát nước có mật độ cống phân bố không đều hướng thoát nước chính chủ yếu là ra sông Bằng và sông Hiến. Hiện nay, dự án thoát nước và xử lý nước thải (thực hiện theo nguồn vốn ODA của Chính phủ Đan Mạch) đang được triển khai với trạm xử lý nước thải công suất 3.000 m3/người.

Đối với các xã, phường hầu như chỉ có một vài tuyến cống, mương hở thoát nước bám theo các trục đường chính ở khu trung tâm. Nước thải phần lớn tự thấm hoặc chảy theo địa hình tự nhiên đổ ra sông, suối. Các điểm dân cư nông thôn (đặc biệt là nông thôn miền núi) dân cư thường sống phân tán nên ở nhiều nơi không có hệ thống thoát nước. Nước mưa và nước thải chủ yếu là tự thấm hoặc chảy tràn ra các mương, hồ ao xung quanh.

Nước thải công nghiệp, đặc biệt là khai thác khoáng sản, phần lớn chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Đây là một trong các nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt.

Mưa lớn kéo dài làm hệ thống thoát nước tại các phường của tỉnh bị ngập úng, nước lũ dâng cao.

Mưa lớn kéo dài làm hệ thống thoát nước tại các phường của tỉnh bị ngập úng, nước lũ dâng cao.

Xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo hướng “sống cùng nước”

Việc xây dựng hệ thống cống thoát nước được đầu tư xây dựng đã lâu năm, nhất là việc xây dựng hệ thống thoát nước mưa chưa đạt hiệu quả cao do kinh phí hạn hẹp, xây dựng manh mún, không có quy hoạch tổng thể của hệ thống thoát. Do đó, khi đấu nối hệ thống sẽ kém hiệu quả, nhất là khi mùa mưa lũ đến, các cống rãnh bị tắc ngập, úng không thoát nước kịp… Thực tế cho thấy việc ngập úng không chỉ do lượng mưa lớn, mà còn do sự kết hợp của địa hình dốc, tập trung dân cư ven sông và hạn chế của hệ thống thoát nước hiện hữu. Đô thị hóa dọc trục sông và giao thông chính làm thu hẹp hành lang thoát lũ.

Để hiện thực hóa việc "sống cùng nước", tỉnh cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ quy hoạch tổng thể đến quản lý chi tiết. Trước hết, quy hoạch các khu đô thị mới phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc phân lưu vực tiêu thoát nước. Việc san nền, nâng cốt cần được xem xét kỹ, tránh tình trạng khu vực mới cao hơn khu dân cư hiện hữu. Đồng thời, tỷ lệ đất cây xanh, mặt nước cần được bảo đảm theo đúng tiêu chuẩn, không cắt giảm để tăng diện tích xây dựng.

Cần đẩy mạnh ứng dụng các vật liệu và công nghệ thấm nước trong hạ tầng đô thị. Vỉa hè, sân chơi, bãi đỗ xe có thể sử dụng gạch thấm; công viên, quảng trường nên được thiết kế với bể trữ nước ngầm để tạm giữ nước mưa, giảm tải cho cống rãnh. Về lâu dài, các địa phương cần hoàn thiện quy hoạch thoát nước tổng thể theo hướng tích hợp - không tách rời quy hoạch xây dựng, giao thông và môi trường. Khi quy hoạch đồng bộ, mỗi lưu vực sẽ có khả năng chịu mưa độc lập, giảm áp lực cho khu vực trung tâm.

Coi trọng yếu tố quản lý, vận hành. Dù hạ tầng tốt đến đâu, nếu không được duy tu thường xuyên cũng nhanh chóng xuống cấp. Việc nạo vét kênh mương, khơi thông cống rãnh cần được thực hiện định kỳ, đặc biệt trước mùa mưa bão. Cùng với đó, cần nâng cao ý thức người dân trong việc giữ gìn hệ thống thoát nước, không xả rác, không lấn chiếm dòng chảy. Chủ động điều tiết và giảm thiểu thiệt hại. Xác lập tư duy phát triển mới đô thị miền núi - từ “chống lũ” sang “thích ứng chủ động”, coi nước là yếu tố quản trị; chia sẻ phương pháp xây dựng và sử dụng IDF-DEM - mô hình mô phỏng để nâng cao chất lượng dự báo, thiết kế và vận hành hạ tầng kỹ thuật đô thị miền núi thích ứng với biến đổi khí hậu cực đoan.

Tiến Mạnh

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/xay-dung-ha-tang-ky-thuat-do-thi-mien-nui-thich-ung-bien-doi-khi-hau-3187112.html